Hủ tục "bắt vợ" và ranh giới mong manh với tội cưỡng ép kết hôn: Xử phạt ra sao?
Trong đời sống văn hóa của một số đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng cao phía Bắc như người H’Mông, người Thái, tục "bắt vợ" (hay còn gọi là kéo vợ) vốn là một nét đẹp truyền thống, thể hiện sự tự nguyện và tình yêu đôi lứa. Tuy nhiên, theo dòng thời gian, nét đẹp này đang dần bị biến tướng, trở thành cái cớ cho những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đặc biệt là hành vi cưỡng ép kết hôn.
Bản chất của tục "bắt vợ" và sự biến tướng nguy hiểm
Về nguyên bản, tục "bắt vợ" là một hình thức "làm phép" để giúp đôi trai gái vượt qua những rào cản về sính lễ hoặc sự khắt khe của gia đình. Điều kiện tiên quyết luôn là sự đồng thuận từ cả hai phía. Thế nhưng, thực tế hiện nay ghi nhận không ít trường hợp các cô gái bị bắt ép, lôi kéo thô bạo ngay giữa ban ngày mà không hề có sự đồng ý. Thậm chí, nhiều nạn nhân còn là trẻ em chưa đủ tuổi kết hôn.
Khung cảnh bản làng vùng cao nơi vẫn còn tồn tại những hủ tục lạc hậu (ảnh minh họa)
Dưới góc độ pháp lý tại thời điểm năm 2019, hành vi lợi dụng hủ tục để ép buộc người khác kết hôn trái ý muốn là vi phạm nghiêm trọng quyền tự do hôn nhân được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Quy định về sự tự nguyện trong kết hôn
Theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, một trong những điều kiện bắt buộc để kết hôn là:
"Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;"
Đồng thời, điểm b khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng nghiêm cấm hành vi:
"Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;"
Mức xử phạt hành chính đối với hành vi cưỡng ép kết hôn
Nếu hành vi "bắt vợ" mang tính chất cưỡng ép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, người vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính. Cụ thể, tại Điều 55 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định:
"Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: 1. Hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc dùng thủ đoạn khác để cưỡng ép người khác kết hôn hoặc cản trở người khác kết hôn tự nguyện, tiến bộ; 2. Hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc dùng thủ đoạn khác để cưỡng ép người khác ly hôn hoặc cản trở người khác tự nguyện ly hôn."
Các họa tiết thổ cẩm đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số (ảnh minh họa)
Trách nhiệm hình sự đối với Tội cưỡng ép kết hôn
Trong trường hợp người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tái phạm, pháp luật sẽ áp dụng các chế tài nghiêm khắc hơn. Theo Điều 181 Bộ luật Hình sự 2015 (có hiệu lực tại thời điểm 2019), Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện được quy định như sau:
"Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép người khác ly hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác ly hôn tự nguyện bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm."
Ai có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật?
Khi một cuộc hôn nhân được xác lập dựa trên sự cưỡng ép (biến tướng của tục bắt vợ), nạn nhân hoặc các bên liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn này. Theo Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, những chủ thể sau có quyền yêu cầu:
- Người bị cưỡng ép kết hôn;
- Cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người bị cưỡng ép;
- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
- Hội liên hiệp phụ nữ.
Việc duy trì và bảo tồn nét đẹp văn hóa dân tộc là cần thiết, nhưng mọi phong tục tập quán đều phải vận hành trong khuôn khổ pháp luật. Hành vi lợi dụng tục "bắt vợ" để xâm phạm danh dự, nhân phẩm và quyền tự do của phụ nữ cần phải được loại bỏ triệt để nhằm xây dựng một xã hội văn minh, thượng tôn pháp luật.
Chỉ cần truy cập hethongphapluat.com, bạn có thể tra cứu mọi thông tin pháp luật cần thiết.
• Nhanh chóng
• Chính xác
• Tiện lợi
Tìm hiểu quy định pháp luật về hủ tục bắt vợ tại Việt Nam năm 2019. Hành vi cưỡng ép kết hôn bị xử phạt hành chính từ 100.000đ đến 300.000đ hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án tù lên đến 03 năm theo Bộ luật Hình sự 2015.