Cháu nội, cháu ngoại có được tính là người phụ thuộc khi bố mẹ vẫn còn khả năng lao động?
Trong quá trình quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN), việc xác định đối tượng người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh luôn là vấn đề được nhiều người nộp thuế quan tâm. Đặc biệt, đối với trường hợp ông bà muốn đăng ký giảm trừ cho cháu nội, cháu ngoại, pháp luật hiện hành có những quy định và điều kiện hết sức cụ thể nhằm đảm bảo tính công bằng và đúng đối tượng.
Quy định về người phụ thuộc là 'cá nhân khác không nơi nương tựa'
Theo hướng dẫn tại Thông tư 111/2013/TT-BTC, người phụ thuộc không chỉ giới hạn ở con cái hay cha mẹ, mà còn bao gồm các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang trực tiếp nuôi dưỡng.
Cụ thể, tại điểm d khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định về các đối tượng này như sau:
"d.4) Các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng và đáp ứng điều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều này bao gồm: [...] d.4.4) Người phải trực tiếp nuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật."
Tuy nhiên, để được tính là người phụ thuộc, các cá nhân này phải đáp ứng điều kiện về thu nhập (không quá 1.000.000 đồng/tháng) và đối với người trong độ tuổi lao động thì phải bị khuyết tật, không có khả năng lao động.
Người nộp thuế cần rà soát kỹ điều kiện trước khi đăng ký giảm trừ gia cảnh (ảnh minh họa)
Mối quan hệ giữa nghĩa vụ nuôi dưỡng và quyền lợi thuế
Để xác định một cá nhân có thuộc diện "trực tiếp nuôi dưỡng" hay không, cơ quan thuế căn cứ vào các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tại Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nghĩa vụ của ông bà đối với cháu được quy định rõ:
"1. Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu... trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 105 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu."
Như vậy, điểm mấu chốt ở đây là cụm từ "không có người nuôi dưỡng". Theo Điều 105 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, anh, chị, em có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng.
Kết luận từ Tổng cục Thuế: Cháu còn bố mẹ có được giảm trừ cho ông bà?
Dựa trên sự xâu chuỗi các quy định nêu trên, Tổng cục Thuế đã có hướng dẫn cụ thể tại Công văn 4758/TCT-DNNCN. Theo đó, trường hợp người nộp thuế đăng ký giảm trừ gia cảnh cho cháu nội, cháu ngoại nhưng bố mẹ của các cháu vẫn đang trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và nuôi dưỡng thì các cháu này không được coi là "không nơi nương tựa".
Vì vậy, người nộp thuế trong trường hợp này không thuộc đối tượng được giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc là cháu nội, cháu ngoại. Đây là một lưu ý quan trọng để tránh việc bị truy thu thuế hoặc xử phạt vi phạm hành chính do kê khai sai đối tượng giảm trừ.
Việc nắm vững các quy định pháp luật không chỉ giúp người dân thực hiện đúng nghĩa vụ thuế mà còn bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trong các giao dịch dân sự và gia đình.
Hãy truy cập ngay hethongphapluat.com để sử dụng tính năng
Dẫn chiếu tự động: Chỉ cần nhấn vào các Điều khoản trong nội dung, hệ thống sẽ tự động liên kết đến các Điều của Luật tương ứng.
Chú thích & Thuật ngữ: Các khái niệm khó hiểu, khô khan đều được giải thích rõ ràng chỉ với một cú nhấp chuột.
Tính năng Phân tích điều luật: Giúp bạn nắm bắt nhanh chóng điều luật kèm ví dụ thực tiễn mà bạn không thể tìm thấy ở bất kỳ website nào.
Tiện ích tại hethongphapluat.com Hệ thống pháp luật Việt Nam giúp bạn nắm rõ mọi ngóc ngách của pháp luật, giúp bạn chuẩn bị kỹ càng khâu pháp lý và giảm thiểu rủi ro cho bạn.
Tìm hiểu quy định mới nhất về việc đăng ký giảm trừ gia cảnh cho cháu nội, cháu ngoại. Trường hợp nào ông bà được tính giảm trừ và điều kiện ràng buộc từ Tổng cục Thuế là gì?