Hành Vi Khiêu Khích, Lăng Mạ, Xúc Phạm Người Khác: Ranh Giới Giữa Xử Phạt Hành Chính Và Khởi Tố Hình Sự
Trong đời sống hằng ngày cũng như trên các nền tảng mạng xã hội, những mâu thuẫn bộc phát dẫn đến cãi vã, khiêu khích hoặc xúc phạm danh dự người khác diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, nhiều người vẫn lầm tưởng rằng hành vi chửi bới, lăng mạ suông chỉ là chuyện ứng xử cá nhân và cùng lắm bị phạt vài triệu đồng. Thực tế pháp lý cho thấy, ranh giới giữa việc bị xử phạt vi phạm hành chính và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác là rất mong manh, phụ thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi cũng như hậu quả gây ra.
1. Khiêu khích, lăng mạ, xúc phạm người khác: Khi nào bị xử phạt hành chính?
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, danh dự, nhân phẩm của mọi cá nhân đều được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt. Bất kỳ hành vi nào xâm phạm trái phép đến giá trị tinh thần này đều phải chịu những chế tài tương ứng.
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cá nhân thực hiện một trong các hành vi sau sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt tiền:
- Xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Khiêu khích, trêu ghẹo, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác.
Mức phạt tiền áp dụng đối với các hành vi vi phạm nêu trên dao động từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.
Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm ngặt quy định tại điểm b và điểm c khoản 14 Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, bao gồm:
- Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn: Người vi phạm phải công khai đính chính, gỡ bỏ toàn bộ nội dung sai sự thật đã đưa ra gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, nhân phẩm người khác.
- Buộc xin lỗi công khai: Việc xin lỗi phải được tiến hành công khai tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm xảy ra vi phạm hoặc đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng (trừ trường hợp người bị hại có đơn đề nghị không yêu cầu xin lỗi công khai).
Cần lưu ý rằng, khung phạt từ 3 đến 4 triệu đồng nêu trên chỉ áp dụng cho các vụ việc mang tính chất chung. Trong trường hợp đối tượng bị xúc phạm, lăng mạ là người đang thi hành công vụ hoặc là thành viên gia đình (ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái...), pháp luật quy định các chế tài xử phạt riêng biệt với mức phạt nặng hơn nhằm bảo đảm tính răn đe.
2. Trường hợp nào hành vi làm nhục người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Hành vi xúc phạm người khác sẽ bước qua ranh giới hành chính để trở thành tội phạm hình sự khi đạt đến ngưỡng "xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự". Đây là dấu hiệu định tội cốt lõi để phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự.
Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Tội làm nhục người khác được phân chia thành các khung hình phạt cụ thể như sau:
a) Khung hình phạt cơ bản (Khoản 1 Điều 155)
Người nào có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị áp dụng một trong các hình phạt:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Thực tiễn pháp lý xác định, không phải cứ xảy ra cãi vã, nói lời cay nghiệt hay chửi bới nơi đông người là nghiễm nhiên cấu thành Tội làm nhục người khác. Cơ quan tố tụng sẽ đánh giá toàn diện dựa trên cường độ của hành vi, mức độ ảnh hưởng tới tâm lý, đời sống của nạn nhân, môi trường diễn ra hành vi và dư luận xã hội.
b) Khung hình phạt tăng nặng từ 03 tháng đến 02 năm tù (Khoản 2 Điều 155)
Hành vi phạm tội sẽ bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm nếu thuộc một trong các trường hợp nghiêm trọng sau:
- Phạm tội 02 lần trở lên: Thực hiện hành vi làm nhục người khác từ hai lần riêng biệt trở lên.
- Đối với 02 người trở lên: Hành vi làm nhục hướng đến cùng lúc hoặc nhiều lần đối với ít nhất hai nạn nhân.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội: Dùng vị thế, thẩm quyền công tác để chèn ép, hạ thấp danh dự cấp dưới hoặc người dân.
- Đối với người đang thi hành công vụ: Xúc phạm cán bộ, chiến sĩ, công chức đang thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình: Xúc phạm thầy cô giáo, cha mẹ nuôi, y bác sĩ trực tiếp điều trị.
- Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử: Sử dụng Facebook, Zalo, TikTok, diễn đàn mạng để phát tán thông tin, clip, bài viết xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm nạn nhân.
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%: Hành vi làm nhục dẫn đến biến chứng sức khỏe tâm thần nghiêm trọng cho nạn nhân theo kết luận giám định y khoa.
c) Khung hình phạt đặc biệt nghiêm trọng từ 02 năm đến 05 năm tù (Khoản 3 Điều 155)
Pháp luật quy định mức án tù cao nhất từ 02 năm đến 05 năm đối với người phạm tội nếu hành vi làm nhục dẫn đến một trong các hậu quả thảm khốc:
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên;
- Làm nạn nhân uất ức dẫn đến tự sát.
Bên cạnh hình phạt chính, khoản 4 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định hình phạt bổ sung: Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
3. Bôi nhọ, lăng mạ người khác trên mạng xã hội: Coi chừng dính bẫy hình sự
Trong kỷ nguyên số, không ít người có thói quen "bóc phốt", livestream chửi bới, cắt ghép hình ảnh chế giễu hoặc lập các hội nhóm bôi nhọ người khác trên không gian mạng. Nhiều người lầm tưởng tài khoản mạng xã hội là ảo nên thoải mái xả căng thẳng mà không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội để đăng tải bài viết, video xúc phạm nghiêm trọng danh dự người khác vừa dễ dàng để lại bằng chứng số (dữ liệu điện tử, vi bằng), vừa thuộc trường hợp định khung tăng nặng theo điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015. Chỉ cần hành vi thỏa mãn yếu tố cấu thành Tội làm nhục người khác, việc thực hiện trên mạng xã hội sẽ khiến người vi phạm đối mặt ngay với mức phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm chứ không dừng lại ở mức phạt cảnh cáo hay phạt tiền.
4. Nạn nhân cần làm gì khi bị lăng mạ, xúc phạm nhân phẩm?
Khi rơi vào tình huống bị người khác khiêu khích, lăng mạ hoặc tung tin bôi nhọ danh dự, người bị hại cần giữ bình tĩnh và thực hiện các bước pháp lý chuẩn xác để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình:
- Lập vi bằng và thu thập chứng cứ: Chủ động chụp ảnh màn hình, quay video, lưu trữ tin nhắn, ghi âm các cuộc gọi hoặc yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận các bài viết, bình luận, hình ảnh bôi nhọ trên mạng xã hội.
- Yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm: Gửi thông báo yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt ngay hành vi xúc phạm và xóa bỏ các thông tin sai sự thật.
- Gửi đơn tố giác đến cơ quan Công an: Trong trường hợp hành vi có dấu hiệu phạm tội hình sự hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng, nạn nhân cần làm đơn tố giác tội phạm kèm theo chứng cứ gửi đến Công an cấp xã/quận/huyện nơi xảy ra vụ việc hoặc nơi người vi phạm cư trú để yêu cầu xác minh, xử lý.
- Khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại dân sự: Bên cạnh việc đề nghị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự, người bị hại có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân theo quy định của Bộ luật Dân sự để yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại về vật chất và bù đắp tổn thất về tinh thần.
Như vậy, hành vi khiêu khích, lăng mạ, xúc phạm người khác không chỉ dừng lại ở mức vi phạm đạo đức xã hội mà còn là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả thực tế, người thực hiện hành vi có thể bị xử phạt hành chính từ 03 đến 04 triệu đồng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án cao nhất lên tới 05 năm tù.
Chatbot thông minh trên hethongphapluat.com giúp bạn giải đáp mọi thắc mắc pháp lý.
• Hiểu câu hỏi
• Trả lời có căn cứ
• Trích dẫn điều luật
Phân tích chi tiết ranh giới pháp lý giữa xử phạt hành chính từ 3-4 triệu đồng theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP và nguy cơ bị phạt tù đến 5 năm về Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự khi có hành vi khiêu khích, lăng mạ, xúc phạm danh dự người khác.