Sáp nhập thôn, tổ dân phố: Trưởng thôn và Tổ trưởng nghỉ việc được nhận trợ cấp thế nào?
Chủ trương sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính và tổ chức lại thôn, tổ dân phố là một trong những chính sách lớn nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động tại cơ sở. Tuy nhiên, vấn đề được nhiều người quan tâm nhất hiện nay chính là số phận và quyền lợi của những người hoạt động không chuyên trách dôi dư. Đặc biệt, đối với đội ngũ Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố - những người trực tiếp "ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng" - khi phải nghỉ việc do sáp nhập sẽ được hưởng những chế độ, trợ cấp cụ thể như thế nào?
Để giải quyết thấu đáo quyền lợi cho đội ngũ này, Chính phủ đã ban hành những quy định rất cụ thể, nhân văn, đảm bảo họ không bị thiệt thòi khi cống hiến cho sự phát triển chung của địa phương.
Căn cứ pháp lý mới nhất về chế độ dôi dư cho cán bộ thôn, tổ dân phố
Theo quy định tại Nghị định 185/2026/NĐ-CP, cụ thể là tại khoản 4 Điều 16, những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (bao gồm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố) nghỉ việc do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố sẽ được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Chính phủ về tinh giản biên chế.
Quy định về tinh giản biên chế hiện hành được áp dụng theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP. Sự kết hợp giữa hai văn bản pháp lý này tạo nên một hành lang bảo vệ quyền lợi vững chắc cho cán bộ cơ sở dôi dư.
1. Đối tượng được áp dụng chế độ trợ cấp dôi dư
Chính sách hỗ trợ này không cào bằng mà tập trung vào các nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc sáp nhập, bao gồm:
- Người hoạt động không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố dôi dư và phải nghỉ việc ngay khi có quyết định sắp xếp của cơ quan có thẩm quyền.
- Người hoạt động không chuyên trách cấp xã được điều động, bố trí về làm việc tại thôn, tổ dân phố trong khoảng thời gian từ ngày 01/07/2025 đến trước ngày 30/06/2026 nhưng sau đó tiếp tục dôi dư do sáp nhập thôn.
2. Nguyên tắc áp dụng và giải quyết chế độ
Chế độ trợ cấp dôi dư được áp dụng ngay kể từ thời điểm có quyết định sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố của cấp có thẩm quyền. Việc chi trả phải đảm bảo tính kịp thời, minh bạch và đúng đối tượng. Đối với những trường hợp đặc biệt như người đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc đang hưởng chế độ hưu trí, mất sức lao động, Nhà nước cũng thiết kế một mức trợ cấp riêng biệt để đảm bảo an sinh xã hội.
Chi tiết các khoản trợ cấp cơ bản dành cho cán bộ thôn nghỉ việc
Khi thực hiện tinh giản do sáp nhập, Trưởng thôn và Tổ trưởng tổ dân phố sẽ được nhận tổng hợp nhiều khoản trợ cấp khác nhau, bao gồm:
- Trợ cấp một lần theo thời gian công tác hoặc nghỉ sớm: Được tính toán dựa trên số tháng công tác thực tế hoặc số tháng nghỉ sớm so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Nghị định 135/2020/NĐ-CP.
- Trợ cấp theo năm công tác: Mỗi năm công tác được hỗ trợ bằng 1,5 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng.
- Trợ cấp tìm kiếm việc làm: Hỗ trợ một khoản tương đương 03 tháng phụ cấp hiện hưởng để người lao động ổn định cuộc sống trong thời gian chuyển đổi công việc.
- Chế độ Bảo hiểm xã hội (BHXH): Người nghỉ việc được lựa chọn bảo lưu thời gian đóng BHXH bắt buộc hoặc nhận trợ cấp BHXH một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Bảng tổng hợp mức trợ cấp cụ thể theo độ tuổi và thời gian công tác
Căn cứ theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Nghị định 154/2025/NĐ-CP, mức trợ cấp cụ thể được phân chia chi tiết theo bảng dưới đây:
| Nhóm đối tượng áp dụng | Thời gian công tác | Độ tuổi / Trạng thái sức khỏe | Công thức tính mức trợ cấp một lần | Trợ cấp tìm việc | Chế độ BHXH / BHYT | Căn cứ pháp lý | Ghi chú thực tế |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Người hoạt động không chuyên trách tại thôn/tổ dân phố dôi dư | Dưới 05 năm | Chưa đủ tuổi nghỉ hưu | (0,8 × phụ cấp × số tháng công tác) + (1,5 × phụ cấp × số năm công tác) | 03 tháng phụ cấp hiện hưởng | Bảo lưu thời gian đóng hoặc hưởng một lần | Điểm a Khoản 1 Điều 10 | Áp dụng cho cán bộ trẻ, thời gian cống hiến ngắn. |
| Người hoạt động không chuyên trách tại thôn/tổ dân phố dôi dư | Từ đủ 05 năm trở lên | Còn dưới 05 năm là đến tuổi nghỉ hưu | (0,8 × phụ cấp × số tháng nghỉ sớm) + (1,5 × phụ cấp × số năm công tác) | 03 tháng phụ cấp hiện hưởng | Bảo lưu thời gian đóng hoặc hưởng một lần | Điểm b Khoản 1 Điều 10 | Khuyến khích cán bộ cận tuổi hưu nghỉ sớm để tinh gọn bộ máy. |
| Người hoạt động không chuyên trách tại thôn/tổ dân phố dôi dư | Từ đủ 05 năm trở lên | Còn từ đủ 05 năm trở lên mới đến tuổi nghỉ hưu | (0,8 × phụ cấp × 60 tháng) + (1,5 × phụ cấp × số năm công tác) | 03 tháng phụ cấp hiện hưởng | Bảo lưu thời gian đóng hoặc hưởng một lần | Điểm c Khoản 1 Điều 10 | Mức hỗ trợ tối đa cho nhóm đối tượng trung niên có thâm niên. |
| Người hoạt động không chuyên trách tại thôn/tổ dân phố dôi dư | Không xét thâm niên | Đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc đang hưởng lương hưu, mất sức lao động | 15 tháng phụ cấp hiện hưởng | Không áp dụng | Hưởng trợ cấp một lần | Khoản 3 Điều 10 | Hỗ trợ trọn gói, không tính theo công thức phức tạp. |
| Cán bộ, công chức cấp xã được bố trí về thôn/tổ dân phố dôi dư | Dưới 05 năm | Chưa đủ tuổi nghỉ hưu | (0,8 × phụ cấp × số tháng công tác) + (1,5 × phụ cấp × số năm công tác) | 03 tháng phụ cấp hiện hưởng | Bảo lưu thời gian đóng hoặc hưởng một lần | Khoản 2 Điều 10 và Điểm a Khoản 1 Điều 9 | Tiền lương tính trợ cấp là lương liền kề trước khi chuyển về thôn. |
| Cán bộ, công chức cấp xã được bố trí về thôn/tổ dân phố dôi dư | Từ đủ 05 năm trở lên | Còn dưới 05 năm là đến tuổi nghỉ hưu | (0,8 × phụ cấp × số tháng nghỉ sớm) + (1,5 × phụ cấp × số năm công tác) | 03 tháng phụ cấp hiện hưởng | Bảo lưu thời gian đóng hoặc hưởng một lần | Khoản 2 Điều 10 và Điểm b Khoản 1 Điều 9 | Bảo vệ quyền lợi cho cán bộ cấp xã được điều động xuống cơ sở. |
| Cán bộ, công chức cấp xã được bố trí về thôn/tổ dân phố dôi dư | Từ đủ 05 năm trở lên | Còn từ đủ 05 năm trở lên mới đến tuổi nghỉ hưu | (0,8 × phụ cấp × 60 tháng) + (1,5 × phụ cấp × số năm công tác) | 03 tháng phụ cấp hiện hưởng | Bảo lưu thời gian đóng hoặc hưởng một lần | Khoản 2 Điều 10 và Điểm c Khoản 1 Điều 9 | Đảm bảo mức thu nhập ổn định sau khi tinh giản. |
| Cán bộ, công chức cấp xã được bố trí về thôn/tổ dân phố dôi dư | Không xét thâm niên | Đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc đang hưởng lương hưu, mất sức lao động | 15 tháng phụ cấp hiện hưởng | Không áp dụng | Hưởng trợ cấp một lần | Khoản 2 Điều 10 và Khoản 3 Điều 9 | Hỗ trợ một lần nhanh chóng, thủ tục đơn giản. |
Lưu ý đặc biệt đối với nhóm chuyển từ cấp xã về thôn: Nhóm đối tượng này được hưởng đặc quyền rất lớn khi tính toán trợ cấp. Cụ thể, mức tiền lương dùng để làm căn cứ tính toán các khoản trợ cấp sẽ là mức lương tháng liền kề của chức danh cán bộ, công chức cấp xã trước khi họ được điều động, bố trí sang làm người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Điều này giúp họ không bị sụt giảm quyền lợi tài chính do thay đổi vị trí công tác trước khi tinh giản.
Trách nhiệm thực thi của chính quyền địa phương
Để chính sách nhân văn này thực sự đi vào cuộc sống, Ủy ban nhân dân các cấp, đặc biệt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có trách nhiệm:
- Rà soát, lập danh sách chính xác những người hoạt động không chuyên trách dôi dư sau sáp nhập.
- Tính toán chính xác mức trợ cấp cho từng cá nhân dựa trên hồ sơ công tác và độ tuổi thực tế.
- Bố trí nguồn ngân sách địa phương và trung ương cấp để chi trả kịp thời, dứt điểm, không để xảy ra tình trạng nợ đọng trợ cấp.
- Tuyên truyền, giải thích rõ ràng các chế độ chính sách để tạo sự đồng thuận cao trong đội ngũ cán bộ cơ sở.
Tóm lại, việc sáp nhập thôn, tổ dân phố tuy mang lại nhiều thách thức nhưng với những chính sách hỗ trợ dôi dư thiết thực, nhân văn từ Chính phủ, quyền lợi của đội ngũ Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố luôn được đặt lên hàng đầu, giúp họ an tâm chuyển giao công việc và ổn định cuộc sống mới.
Hãy truy cập ngay hethongphapluat.com để trải nghiệm hệ thống tra cứu pháp luật toàn diện.
• Dữ liệu đầy đủ từ năm 1945 đến nay
• Dẫn chiếu điều luật thông minh
• Phân tích điều luật dễ hiểu
• Chatbot AI hỗ trợ 24/7
Hướng dẫn chi tiết chế độ, chính sách và mức trợ cấp dôi dư dành cho Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố nghỉ việc do sáp nhập, sắp xếp lại theo quy định mới nhất tại Nghị định 185/2026/NĐ-CP và Nghị định 154/2025/NĐ-CP.