Ủy quyền cho người khác: Bạn có đang tự tước bỏ quyền lợi của chính mình?

Ủy quyền cho người khác: Bạn có đang tự tước bỏ quyền lợi của chính mình?

Thứ tư, 7/6/2023, 20:30 (GMT+7)
Ủy quyền cho người khác: Bạn có đang tự tước bỏ quyền lợi của chính mình?
Nhiều người lo ngại rằng khi ký hợp đồng ủy quyền, họ sẽ mất đi quyền kiểm soát đối với tài sản hoặc công việc của mình. Vậy thực hư quy định pháp luật về vấn đề này ra sao? Liệu người được ủy quyền có thể 'tự ý' ủy quyền tiếp cho bên thứ ba? Hãy cùng tìm hiểu chi tiết qua bài viết dưới đây.

Trong cuộc sống và các giao dịch dân sự, việc nhờ người khác thay mặt mình thực hiện một công việc nào đó là điều hết sức phổ biến. Tuy nhiên, một câu hỏi pháp lý quan trọng thường được đặt ra là: Liệu khi đã ủy quyền, chủ sở hữu có còn quyền can thiệp hoặc thực hiện công việc đó nữa hay không? Hiểu đúng về bản chất của ủy quyền sẽ giúp bạn bảo vệ quyền lợi tối ưu nhất.

Hai người đang thảo luận và ký kết hợp đồng ủy quyền tại văn phòng
Việc ký kết hợp đồng ủy quyền cần sự thấu hiểu rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các bên (ảnh minh họa)

Bản chất của việc ủy quyền theo quy định pháp luật hiện hành

Mặc dù pháp luật không đưa ra một định nghĩa riêng biệt về "ủy quyền", nhưng tại Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định rất rõ về hợp đồng ủy quyền:

"Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định."

Dựa trên quy định này, chúng ta có thể thấy bản chất của ủy quyền là việc một bên nhân danh bên kia để thực hiện công việc. Đây hoàn toàn không phải là sự chuyển giao quyền sở hữu hay từ bỏ quyền lợi. Người được ủy quyền chỉ đóng vai trò là "cánh tay nối dài" của người ủy quyền trong phạm vi và thời hạn nhất định.

Người ủy quyền có bị "mất quyền" sau khi ký hợp đồng?

Câu trả lời ngắn gọn là: Không. Việc ủy quyền không làm chấm dứt tư cách chủ thể của người ủy quyền đối với công việc hoặc tài sản đó. Thậm chí, pháp luật còn cho phép người ủy quyền có quyền kiểm soát tuyệt đối thông qua việc đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Theo Điều 569 Bộ luật Dân sự 2015, quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền được quy định như sau:

  • Đối với ủy quyền có thù lao: Người ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt bất cứ lúc nào nhưng phải trả thù lao tương ứng với phần công việc đã làm và bồi thường thiệt hại (nếu có).
  • Đối với ủy quyền không có thù lao: Người ủy quyền có thể chấm dứt việc ủy quyền bất cứ lúc nào, miễn là báo trước cho bên được ủy quyền một khoảng thời gian hợp lý.

Như vậy, quyền chủ động vẫn luôn nằm trong tay người ủy quyền. Bạn hoàn toàn có thể trực tiếp thực hiện công việc đã ủy quyền nếu thấy cần thiết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác đặc thù.

Cận cảnh bút ký trên văn bản hợp đồng ủy quyền
Hợp đồng ủy quyền là công cụ pháp lý linh hoạt nhưng cần được sử dụng cẩn trọng (ảnh minh họa)

Quy định về việc ủy quyền lại cho người thứ ba

Một vấn đề khác khiến nhiều người lo lắng là liệu người mình tin tưởng giao phó có thể tiếp tục "nhờ" một người lạ khác thực hiện hay không? Điều 564 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép việc ủy quyền lại nhưng chỉ trong các trường hợp khắt khe:

  1. Có sự đồng ý của bên ủy quyền ban đầu.
  2. Do sự kiện bất khả kháng mà nếu không ủy quyền lại thì mục đích của giao dịch không thể thực hiện được.

Lưu ý quan trọng: Phạm vi ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu và hình thức của hợp đồng ủy quyền lại phải tương ứng với hợp đồng gốc (ví dụ: nếu hợp đồng gốc có công chứng thì hợp đồng ủy quyền lại cũng phải công chứng).

Tóm lại, ủy quyền là một công cụ pháp lý hữu ích giúp bạn giải quyết công việc khi vắng mặt hoặc thiếu chuyên môn, nhưng nó không đồng nghĩa với việc bạn mất đi quyền lợi của mình. Để đảm bảo an toàn, hãy luôn quy định rõ phạm vi, thời hạn và trách nhiệm trong văn bản ủy quyền.

Truy cập hethongphapluat.com để biến luật phức tạp thành kiến thức dễ hiểu.

• Phân tích điều luật chi tiết
• Ví dụ thực tế rõ ràng
• Lưu ý áp dụng trong thực tiễn

Chuyên mục
Lĩnh vực
Mô tả

Nhiều người lo ngại rằng khi ký hợp đồng ủy quyền, họ sẽ mất đi quyền kiểm soát đối với tài sản hoặc công việc của mình. Vậy thực hư quy định pháp luật về vấn đề này ra sao? Liệu người được ủy quyền có thể 'tự ý' ủy quyền tiếp cho bên thứ ba? Hãy cùng tìm hiểu chi tiết qua bài viết dưới đây.

Tác giả
Bán đất là tài sản chung: Thiếu chữ ký vợ hoặc chồng, hợp đồng có vô hiệu?
We build our Drupal themes using best practices in choosing right modules, configuration and providing sample content so you can have your Drupal website faster, more stable and easy to maintain.

Bài liên quan

Hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ có bắt buộc lập hóa đơn điện tử và kê khai thuế GTGT?
Quy định mới nhất tại Thông tư 04/2026/TT-BGDĐT xác định rõ giáo viên chủ nhiệm lớp giáo dục thường xuyên được giảm 04 tiết/tuần và mức giảm định m
Tổng hợp chi tiết quy định về khoảng cách an toàn trên đường cao tốc theo Luật Đường bộ và Thông tư 38/2024/TT-BGTVT, mức phạt tiền và trừ điểm giấ
Bộ Nội vụ chủ trì hoàn thiện cơ chế tiền lương, thu nhập gắn liền với vị trí việc làm và năng suất lao động theo kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ,