Làm sao để xác định chính xác thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất?
Trong thực tế đời sống pháp lý tại Việt Nam, khái niệm "Hộ gia đình sử dụng đất" thường gây ra không ít nhầm lẫn và tranh chấp kéo dài, đặc biệt là khi thực hiện các giao dịch dân sự như mua bán, tặng cho hoặc chia thừa kế. Nhiều người lầm tưởng rằng cứ có tên trong sổ hộ khẩu là đương nhiên có quyền đối với mảnh đất của gia đình. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật đất đai tính đến tháng 6/2021, việc xác định tư cách thành viên có quyền sử dụng đất đòi hỏi sự đối chiếu khắt khe giữa nhiều loại giấy tờ và mốc thời gian khác nhau.
Khái niệm Hộ gia đình sử dụng đất theo Luật Đất đai 2013
Để xác định ai là người có quyền, trước hết cần hiểu rõ định nghĩa về chủ thể này. Theo quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013:
29. Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Như vậy, một cá nhân được coi là thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất khi và chỉ khi hội đủ 03 điều kiện cần và đủ tại thời điểm Nhà nước xác lập quyền sử dụng đất cho hộ:
- Có quan hệ gia đình: Là vợ chồng, cha mẹ con cái, hoặc người được nuôi dưỡng hợp pháp.
- Đang sống chung: Có sự gắn bó về nơi cư trú thực tế.
- Có quyền sử dụng đất chung: Có đóng góp công sức, tiền của hoặc tài sản để tạo lập quyền sử dụng đất đó.
Sổ hộ khẩu có phải là căn cứ duy nhất?
Đây là sai lầm phổ biến nhất của người dân. Sổ hộ khẩu chỉ là văn bản quản lý hành chính về cư trú, không phải là văn bản xác nhận quyền sở hữu tài sản. Mặc dù Thông tư 23/2014/TT-BTNMT (được sửa đổi bởi Thông tư 33/2017/TT-BTNMT) quy định cách ghi tên trên Giấy chứng nhận (Sổ đỏ) cho hộ gia đình, nhưng thực tế nhiều Sổ đỏ cũ chỉ ghi tên chủ hộ.
Để giải quyết các tranh chấp phát sinh, Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn tại Công văn 01/2017/GĐ-TANDTC. Theo đó, khi có sự thay đổi thành viên hộ gia đình (như có người mới nhập khẩu hoặc người cũ chuyển đi) so với thời điểm cấp Sổ đỏ, cơ quan chức năng phải căn cứ vào Bản danh sách đăng ký thành viên hộ gia đình tại thời điểm nộp hồ sơ cấp Sổ đỏ để xác định ai là người có quyền.
Tình huống thực tế: Nhập khẩu sau khi cấp Sổ đỏ có được chia đất?
Xét trường hợp một người em trai đến cư trú và nhập hộ khẩu vào gia đình từ năm 2015, trong khi mảnh đất đã được cấp Sổ đỏ cho hộ gia đình từ trước đó (ví dụ năm 2010). Theo nguyên tắc "thời điểm xác lập quyền", người em trai này không hội đủ điều kiện "đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung" tại thời điểm Nhà nước cấp đất cho hộ.
Do đó, người em trai dù có tên trong sổ hộ khẩu hiện tại nhưng không có quyền sử dụng đất chung đối với mảnh đất này. Quyền sử dụng đất vẫn thuộc về những thành viên đã hiện diện và đủ điều kiện tại thời điểm năm 2010 (thường là vợ chồng và các con đã sinh ra/đang sống chung lúc đó).
Lời khuyên pháp lý để tránh tranh chấp
Để bảo vệ quyền lợi và tránh các rắc rối về sau, người dân cần lưu ý:
- Kiểm tra hồ sơ địa chính: Khi có nghi ngờ, hãy liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai để trích lục hồ sơ cấp Sổ đỏ ban đầu, xem xét danh sách thành viên hộ gia đình đã kê khai.
- Thực hiện đính chính hoặc cấp đổi: Nếu Sổ đỏ chỉ ghi tên chủ hộ nhưng thực tế là tài sản chung của hộ, các thành viên có thể yêu cầu cấp đổi Sổ đỏ mới ghi đầy đủ tên các thành viên theo quy định của Thông tư 33/2017/TT-BTNMT.
- Văn bản thỏa thuận: Trong gia đình nên có các văn bản thỏa thuận rõ ràng về đóng góp tài sản để làm căn cứ giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra.
Việc hiểu đúng và xác định chính xác thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất không chỉ giúp bảo vệ tài sản cá nhân mà còn đảm bảo tính pháp lý cho các giao dịch bất động sản, tránh những thiệt hại không đáng có về sau.
hethongphapluat.com giúp bạn tiếp cận thông tin pháp luật nhanh chóng và chính xác.
• Tìm kiếm nhanh
• Dẫn chiếu tức thì
• Nội dung chuẩn xác
Việc xác định thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất là vấn đề pháp lý phức tạp, dễ gây tranh chấp khi thực hiện các giao dịch chuyển nhượng, tặng cho hay thừa kế. Bài viết phân tích chi tiết các căn cứ pháp lý theo quy định hiện hành năm 2021.