Mức phí bảo vệ môi trường mới đối với khai thác khoáng sản: Dầu thô chịu phí 100.000 đồng/tấn từ năm 2012
Ngày 25/08/2011, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 74/2011/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản. Đây là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện khung pháp lý về tài chính môi trường, thay thế cho các quy định cũ không còn phù hợp với thực tiễn khai thác tài nguyên hiện nay.
Hoạt động khai thác dầu thô sẽ chịu mức phí bảo vệ môi trường 100.000 đồng/tấn (ảnh minh họa)
Mức thu phí cụ thể đối với dầu thô và khí thiên nhiên
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 74/2011/NĐ-CP, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với các loại nhiên liệu hóa thạch quan trọng được ấn định cụ thể như sau:
- Dầu thô: 100.000 đồng/tấn.
- Khí thiên nhiên, khí than: 50 đồng/m³.
- Khí đồng hành (khí thiên nhiên thu được trong quá trình khai thác dầu thô): 35 đồng/m³.
Việc áp dụng mức phí cố định đối với dầu và khí giúp đơn giản hóa quá trình kê khai và nộp phí của các doanh nghiệp khai thác dầu khí, đồng thời đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách trung ương để đầu tư ngược lại cho các dự án bảo vệ môi trường quy mô lớn.
Khung mức phí đối với khoáng sản kim loại và phi kim loại
Đối với các loại khoáng sản khác, Chính phủ quy định khung mức phí (tối thiểu và tối đa) để Hội đồng nhân dân các tỉnh có căn cứ quyết định mức thu cụ thể phù hợp với địa phương.
Khoáng sản kim loại
Các loại quặng quý hiếm và có tác động lớn đến môi trường khi khai thác như vàng, bạc, thiếc, chì, kẽm, bạch kim... có mức thu phí dao động từ 180.000 đồng đến 270.000 đồng/tấn. Quặng sắt, đất hiếm và cromit có mức thu từ 40.000 đồng đến 60.000 đồng/tấn. Trong khi đó, quặng nhôm, bô-xít và măng-gan có mức thu thấp hơn, từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng/tấn.
Khoáng sản phi kim loại
Đối với than, mức phí tối thiểu là 6.000 đồng và tối đa là 10.000 đồng/tấn. Các loại đá quý như kim cương, rubi, saphia hay đá ốp lát mỹ nghệ có mức thu từ 50.000 đồng đến 70.000 đồng/m³. Các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường như cát, sỏi, đá vôi có mức phí thấp hơn nhằm hỗ trợ phát triển hạ tầng địa phương.
Thẩm quyền quyết định và chính sách ưu đãi tận thu
Căn cứ vào khung mức phí quy định tại Nghị định, Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ quyết định mức thu cụ thể áp dụng tại địa phương mình. Điều này đảm bảo tính linh hoạt, giúp các địa phương điều chỉnh chính sách tài chính phù hợp với trữ lượng khoáng sản và yêu cầu bảo vệ môi trường đặc thù của từng vùng.
Đặc biệt, nhằm khuyến khích việc sử dụng tiết kiệm tài nguyên, pháp luật quy định mức phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản tận thu chỉ bằng 60% mức phí của loại khoáng sản tương ứng. Đây là chính sách nhân văn giúp các đơn vị khai thác tận dụng tối đa nguồn tài nguyên còn sót lại mà không bị áp lực quá lớn về chi phí phí môi trường.
Cơ chế phân chia nguồn thu ngân sách
Một điểm mới đáng chú ý trong Nghị định 74/2011/NĐ-CP là quy định về việc hưởng thụ nguồn thu:
- Phí từ dầu thô và khí thiên nhiên: Ngân sách Trung ương hưởng 100% để hỗ trợ công tác bảo vệ môi trường chung của cả nước.
- Phí từ các loại khoáng sản khác: Ngân sách địa phương hưởng 100% để đầu tư trực tiếp cho việc khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường tại nơi có hoạt động khai thác.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 74/2011/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012. Văn bản này chính thức thay thế cho Nghị định 63/2008/NĐ-CP và Nghị định 82/2009/NĐ-CP. Các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản cần chủ động cập nhật mức phí mới để thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Chỉ một cú click để truy cập toàn bộ nội dung liên quan.
• Liên kết điều khoản tức thì
• Không bỏ sót thông tin
• Tránh nhầm lẫn pháp lý
Truy cập hethongphapluat.com để biến luật phức tạp thành kiến thức dễ hiểu.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 74/2011/NĐ-CP quy định mức phí bảo vệ môi trường mới đối với khai thác khoáng sản. Đáng chú ý, mức phí đối với dầu thô lên đến 100.000 đồng/tấn, áp dụng từ ngày 01/01/2012 nhằm tăng cường nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường.