Mức phạt phá rừng mới nhất từ 25/6/2026: Coi chừng trắng tay vì mức phạt tăng vọt và buộc trồng lại rừng!
Nạn phá rừng và những hệ lụy khôn lường đối với môi trường
Rừng được ví như "lá phổi xanh" của Trái Đất, đóng vai trò quyết định trong việc điều hòa khí hậu, giữ nước, ngăn ngừa lũ lụt và sạt lở đất. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng trái phép vẫn diễn ra phức tạp tại nhiều địa phương, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học và an ninh môi trường quốc gia. Để răn đe và ngăn chặn triệt để hành vi này, Chính phủ đã ban hành các chế tài xử phạt vô cùng nghiêm khắc.
Kể từ ngày 25/6/2026, Nghị định 146/2026/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp chính thức có hiệu lực thi hành, thay thế cho các quy định cũ trước đây. Nghị định mới này đã siết chặt quản lý và tăng mạnh mức phạt đối với các hành vi hủy hoại rừng.
Thế nào là hành vi phá rừng theo quy định pháp luật?
Theo quy định tại Luật Lâm nghiệp 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, phá rừng là hành vi trái pháp luật xâm hại trực tiếp đến tài nguyên rừng thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.
Cụ thể, tại Điều 23 Nghị định 146/2026/NĐ-CP, hành vi phá rừng được định nghĩa bao gồm:
Chặt, đốt, phá cây rừng, đào, bới, san ủi, nổ mìn; đắp đập, ngăn dòng chảy tự nhiên, xả chất độc hoặc các hành vi khác gây thiệt hại đến rừng thuộc sở hữu toàn dân với bất kỳ mục đích gì mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Chi tiết mức phạt tiền đối với hành vi phá rừng từ ngày 25/6/2026
Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phá rừng được phân hóa rõ rệt dựa trên diện tích rừng bị thiệt hại, loại rừng (rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng) và giá trị lâm sản bị thiệt hại đối với trường hợp không tính được bằng diện tích. Dưới đây là bảng tổng hợp chi tiết các khung hình phạt tiền áp dụng đối với cá nhân vi phạm:
| Khung phạt | Hành vi vi phạm cụ thể (Diện tích hoặc Giá trị thiệt hại) | Mức phạt tiền (đối với cá nhân) |
|---|---|---|
| Khung 1 |
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng: diện tích dưới 3.000 m2; - Rừng sản xuất: diện tích dưới 500 m2; - Rừng phòng hộ: diện tích dưới 300 m2; - Rừng đặc dụng: diện tích dưới 100 m2; - Lâm sản bị thiệt hại không tính được bằng diện tích: Thực vật rừng thông thường trị giá dưới 5 triệu đồng; Nhóm IIA dưới 4 triệu đồng; Nhóm IA dưới 3 triệu đồng. |
Từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng |
| Khung 2 |
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng: diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 6.000 m2; - Rừng sản xuất: diện tích từ 500 m2 đến dưới 1.000 m2; - Rừng phòng hộ: diện tích từ 300 m2 đến dưới 600 m2; - Rừng đặc dụng: diện tích từ 100 m2 đến dưới 200 m2; - Lâm sản bị thiệt hại không tính được bằng diện tích: Thực vật rừng thông thường trị giá từ 5 triệu đến dưới 10 triệu đồng; Nhóm IIA từ 4 triệu đến dưới 7 triệu đồng; Nhóm IA từ 3 triệu đến dưới 5 triệu đồng. |
Từ 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng |
| Khung 3 |
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng: diện tích từ 6.000 m2 đến dưới 9.000 m2; - Rừng sản xuất: diện tích từ 1.000 m2 đến dưới 1.500 m2; - Rừng phòng hộ: diện tích từ 600 m2 đến dưới 900 m2; - Rừng đặc dụng: diện tích từ 200 m2 đến dưới 300 m2; - Lâm sản bị thiệt hại không tính được bằng diện tích: Thực vật rừng thông thường trị giá từ 10 triệu đến dưới 20 triệu đồng; Nhóm IIA từ 7 triệu đến dưới 10 triệu đồng; Nhóm IA từ 5 triệu đến dưới 7 triệu đồng. |
Từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng |
| Khung 4 |
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng: diện tích từ 9.000 m2 đến dưới 12.000 m2; - Rừng sản xuất: diện tích từ 1.500 m2 đến dưới 2.000 m2; - Rừng phòng hộ: diện tích từ 900 m2 đến dưới 1.200 m2; - Rừng đặc dụng: diện tích từ 300 m2 đến dưới 400 m2; - Lâm sản bị thiệt hại không tính được bằng diện tích: Thực vật rừng thông thường trị giá từ 20 triệu đến dưới 30 triệu đồng; Nhóm IIA từ 10 triệu đến dưới 20 triệu đồng; Nhóm IA từ 7 triệu đến dưới 10 triệu đồng. |
Từ 25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng |
| Khung 5 |
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng: diện tích từ 12.000 m2 đến dưới 15.000 m2; - Rừng sản xuất: diện tích từ 2.000 m2 đến dưới 2.500 m2; - Rừng phòng hộ: diện tích từ 1.200 m2 đến dưới 1.500 m2; - Rừng đặc dụng: diện tích từ 400 m2 đến dưới 500 m2; - Lâm sản bị thiệt hại không tính được bằng diện tích: Thực vật rừng thông thường trị giá từ 30 triệu đến dưới 40 triệu đồng; Nhóm IIA từ 20 triệu đến dưới 30 triệu đồng; Nhóm IA từ 10 triệu đến dưới 15 triệu đồng. |
Từ 50.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng |
| Khung 6 |
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng: diện tích từ 15.000 m2 đến dưới 18.000 m2; - Rừng sản xuất: diện tích từ 2.500 m2 đến dưới 3.000 m2; - Rừng phòng hộ: diện tích từ 1.500 m2 đến dưới 1.800 m2; - Rừng đặc dụng: diện tích từ 500 m2 đến dưới 600 m2; - Lâm sản bị thiệt hại không tính được bằng diện tích: Thực vật rừng thông thường trị giá từ 40 triệu đến dưới 50 triệu đồng; Nhóm IIA từ 30 triệu đến dưới 40 triệu đồng; Nhóm IA từ 15 triệu đến dưới 20 triệu đồng. |
Từ 80.000.000 đồng đến 110.000.000 đồng |
| Khung 7 |
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng: diện tích từ 18.000 m2 đến dưới 21.000 m2; - Rừng sản xuất: diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 3.500 m2; - Rừng phòng hộ: diện tích từ 1.800 m2 đến dưới 2.100 m2; - Rừng đặc dụng: diện tích từ 600 m2 đến dưới 700 m2. |
Từ 110.000.000 đồng đến 130.000.000 đồng |
| Khung 8 |
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng: diện tích từ 21.000 m2 đến dưới 24.000 m2; - Rừng sản xuất: diện tích từ 3.500 m2 đến dưới 4.000 m2; - Rừng phòng hộ: diện tích từ 2.100 m2 đến dưới 2.400 m2; - Rừng đặc dụng: diện tích từ 700 m2 đến dưới 800 m2. |
Từ 130.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng |
| Khung 9 |
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng: diện tích từ 24.000 m2 đến dưới 27.000 m2; - Rừng sản xuất: diện tích từ 4.000 m2 đến dưới 4.500 m2; - Rừng phòng hộ: diện tích từ 2.400 m2 đến dưới 2.700 m2; - Rừng đặc dụng: diện tích từ 800 m2 đến dưới 900 m2. |
Từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng |
| Khung 10 |
- Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng: diện tích từ 27.000 m2 đến dưới 30.000 m2; - Rừng sản xuất: diện tích từ 4.500 m2 đến dưới 5.000 m2; - Rừng phòng hộ: diện tích từ 2.700 m2 đến dưới 3.000 m2; - Rừng đặc dụng: diện tích từ 900 m2 đến dưới 1.000 m2. |
Từ 180.000.000 đồng đến 220.000.000 đồng |
Lưu ý đặc biệt quan trọng:
- Mức phạt đối với tổ chức: Theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, mức phạt tiền nêu trên là áp dụng đối với cá nhân vi phạm. Trường hợp tổ chức có cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền sẽ gấp 02 lần mức phạt đối với cá nhân (tối đa lên đến 440.000.000 đồng).
- Phá rừng tự nhiên phạt gấp đôi: Theo quy định tại khoản 15 Điều 23 Nghị định 146/2026/NĐ-CP, mức phạt quy định tại các khung trên áp dụng đối với rừng trồng. Trường hợp phá rừng tự nhiên là rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì áp dụng mức phạt bằng hai lần đối với hành vi tương ứng.
Xử phạt hành vi đầu độc, hủy hoại cây rừng (Khoản 11)
Đối với các hành vi tinh vi như bóc vỏ, ken cây, khoan vào thân cây, băm gốc, đổ hóa chất hủy hoại gốc, rễ cây, cưa quanh gốc cây, cắt cụt ngọn cây rừng nhằm làm cây chết dần, pháp luật quy định mức phạt tính theo số lượng cây bị xâm hại:
- Mỗi cây gỗ có đường kính tại vị trí 1,3 m dưới 8 cm bị xâm hại: Xử phạt 100.000 đồng/cây (tổng mức phạt tối đa không quá 100.000.000 đồng).
- Mỗi cây gỗ có đường kính tại vị trí 1,3 m từ 8 cm trở lên bị xâm hại: Xử phạt 200.000 đồng/cây (tổng mức phạt tối đa không quá 220.000.000 đồng).
Trách nhiệm của chủ rừng khi để xảy ra phá rừng (Khoản 12)
Chủ rừng được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để quản lý, bảo vệ, phát triển rừng hoặc sử dụng rừng theo quy định pháp luật, nếu không tổ chức thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng theo quy chế quản lý rừng để xảy ra phá rừng nhưng không xác định được đối tượng vi phạm thì sẽ bị xử phạt tương ứng với loại rừng bị thiệt hại như quy định xử phạt đối với người phá rừng.
Các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả
Không chỉ dừng lại ở việc phạt tiền, người thực hiện hành vi phá rừng còn phải đối mặt với các chế tài bổ sung cực kỳ nghiêm khắc nhằm triệt tiêu động cơ vi phạm và khắc phục tối đa thiệt hại gây ra cho môi trường.
Hình thức xử phạt bổ sung (Khoản 13):
- Tịch thu toàn bộ tang vật (lâm sản, gỗ...) thu giữ được từ vụ phá rừng.
- Tịch thu phương tiện giao thông thô sơ đường bộ và các dụng cụ, công cụ được sử dụng để thực hiện hành vi phá rừng (như cưa xăng, rìu, rựa...).
- Tịch thu phương tiện cơ giới (xe tải, máy xúc, máy ủi...) đối với các hành vi vi phạm từ Khung 4 trở lên (phạt tiền từ 25 triệu đồng trở lên). Đây là đòn giáng mạnh vào kinh tế của các đối tượng phá rừng quy mô lớn.
Biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc (Khoản 14):
Người vi phạm bắt buộc phải thực hiện các biện pháp sau để khắc phục hậu quả do mình gây ra:
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi đào, bới, san ủi, nổ mìn, đắp đập, ngăn dòng chảy tự nhiên gây thiệt hại đến rừng.
- Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh áp dụng đối với hành vi xả chất độc gây thiệt hại đến rừng.
- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính.
- Buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với trường hợp tang vật, phương tiện tịch thu bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.
- Đặc biệt: Buộc trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp nhưng không quá 12 tháng tính từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Chi phí trồng lại rừng và chăm sóc rừng trồng do cá nhân, tổ chức vi phạm tự chi trả.
Lời khuyên pháp lý và thông điệp bảo vệ rừng
Quy định mới tại Nghị định 146/2026/NĐ-CP cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Nhà nước trong việc bảo vệ tài nguyên rừng quốc gia. Mức phạt tiền tăng cao, kết hợp với việc tịch thu phương tiện cơ giới đắt tiền và buộc trồng lại rừng sẽ là rào cản pháp lý vững chắc ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng.
Mọi hành vi tự ý tác động vào rừng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đều là vi phạm pháp luật. Người dân và doanh nghiệp cần nâng cao nhận thức, tuyệt đối tuân thủ các quy định về quản lý và bảo vệ rừng để tránh những thiệt hại nặng nề về kinh tế cũng như các rủi ro pháp lý nghiêm trọng, thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi phá rừng có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Chỉ cần truy cập hethongphapluat.com, bạn có thể tra cứu mọi thông tin pháp luật cần thiết.
• Nhanh chóng
• Chính xác
• Tiện lợi
Từ ngày 25/6/2026, Nghị định 146/2026/NĐ-CP chính thức áp dụng mức phạt mới cực kỳ nghiêm khắc đối với hành vi phá rừng. Người vi phạm không chỉ đối mặt với mức phạt tiền lên đến hàng trăm triệu đồng mà còn bị tịch thu phương tiện và buộc trồng lại rừng. Xem chi tiết tại đây!