Gây thương tích dưới 11%: Khi nào bị đi tù và mức bồi thường dân sự mới nhất?
Trong thực tế đời sống, các va chạm dẫn đến xô xát gây thương tích là điều khó tránh khỏi. Một câu hỏi pháp lý thường gặp là: "Gây thương tích dưới 11% thì có bị đi tù không?". Nhiều người vẫn chủ quan cho rằng tỷ lệ thương tật thấp thì chỉ dừng lại ở việc bồi thường hoặc phạt hành chính. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành (tính đến tháng 6/2020), ranh giới giữa xử phạt hành chính và trách nhiệm hình sự là rất mong manh.
1. Truy cứu trách nhiệm hình sự dù thương tích dưới 11%
Thông thường, tội cố ý gây thương tích chỉ bị truy cứu khi tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017, người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% vẫn có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu thuộc một trong các trường hợp đặc biệt sau:
- Sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm (như dao sắc nhọn, gậy sắt...) hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
- Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
- Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
- Có tổ chức hoặc có tính chất côn đồ;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Phạm tội trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù...
- Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
- Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm..."
2. Xử phạt vi phạm hành chính nếu không đủ yếu tố hình sự
Trong trường hợp hành vi gây thương tích dưới 11% và không kèm theo các tình tiết định khung tăng nặng nêu trên, người vi phạm sẽ bị xử lý hành chính. Tại thời điểm năm 2020, mức phạt được áp dụng theo điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.
Cụ thể, mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng sẽ được áp dụng đối với hành vi: "Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác". Đây là mức phạt mang tính răn đe đối với các hành vi xô xát nhỏ, chưa gây hậu quả nghiêm trọng về mặt hình sự.
3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự
Dù bị xử lý hình sự hay hành chính, người gây thương tích vẫn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về mặt dân sự cho nạn nhân. Theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, các khoản bồi thường bao gồm:
- Chi phí cứu chữa, phục hồi: Tiền thuốc men, viện phí, thuê phương tiện cấp cứu, chi phí chụp chiếu, xét nghiệm theo chỉ định của bác sĩ.
- Thu nhập thực tế bị mất: Khoản tiền mà nạn nhân đáng lẽ nhận được nếu không phải đi điều trị thương tích.
- Chi phí cho người chăm sóc: Tiền công và thu nhập bị mất của người trực tiếp chăm sóc nạn nhân trong thời gian nằm viện.
- Bồi thường tổn thất tinh thần: Một khoản tiền bù đắp sự đau đớn về thể xác và tinh thần. Mức bồi thường này do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Lời khuyên pháp lý: Khi xảy ra va chạm, các bên nên ưu tiên phương án thỏa thuận, hòa giải và bồi thường thỏa đáng để tránh những hệ lụy pháp lý kéo dài, đặc biệt là nguy cơ phải đối mặt với án tù dù tỷ lệ thương tật không cao.
Hãy truy cập ngay hethongphapluat.com để trải nghiệm hệ thống tra cứu pháp luật toàn diện.
• Dữ liệu đầy đủ từ năm 1945 đến nay
• Dẫn chiếu điều luật thông minh
• Phân tích điều luật dễ hiểu
• Chatbot AI hỗ trợ 24/7
Nhiều người lầm tưởng gây thương tích dưới 11% chỉ bị phạt hành chính. Tuy nhiên, tùy vào tính chất hành vi, người vi phạm vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án đến 3 năm tù và phải bồi thường thiệt hại dân sự rất lớn.