Bất ngờ: 4 trường hợp đặc biệt không cần Sổ đỏ vẫn được sang tên nhà đất đúng luật
Trong tâm lý chung của nhiều người dân, việc mua bán, tặng cho hay thừa kế nhà đất bắt buộc phải có "tấm thẻ đỏ" - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thường gọi là Sổ đỏ). Tuy nhiên, thực tế pháp lý lại có những "cánh cửa hẹp" đầy nhân văn và linh hoạt. Theo quy định tại Luật Đất đai 2013 và Luật Nhà ở 2014, có 04 trường hợp đặc biệt mà người dân vẫn được thực hiện thủ tục sang tên dù chưa cầm trên tay cuốn sổ đỏ.
1. Hai trường hợp sang tên nhà ở không bắt buộc có Sổ đỏ
Đối với tài sản là nhà ở, khoản 2 Điều 118 Luật Nhà ở 2014 đã mở ra cơ chế cho phép giao dịch trong các tình huống cụ thể sau:
Trường hợp 1: Nhận thừa kế nhà ở
Đây là trường hợp phổ biến nhất. Khi người để lại di sản qua đời, người thừa kế có thể thực hiện thủ tục sang tên mà không cần Sổ đỏ đứng tên người quá cố, miễn là có đủ giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp. Cụ thể, theo khoản 8 Điều 72 Nghị định 99/2015/NĐ-CP, các loại giấy tờ thay thế bao gồm:
- Nhà ở được tặng cho: Văn bản hoặc hợp đồng tặng cho lập hợp pháp kèm giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của bên tặng cho.
- Nhà ở mua, thuê mua: Hợp đồng mua bán, thuê mua hợp pháp kèm giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở hoặc chứng minh việc đầu tư xây dựng nhà ở của bên bán, bên cho thuê mua.
- Nhà ở tự xây mới: Giấy phép xây dựng (đối với trường hợp phải có giấy phép xây dựng) và giấy tờ chứng minh có quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật về đất đai của bên để thừa kế.
- Theo quyết định của Tòa án: Bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân.
Trường hợp 2: Chuyển nhượng nhà ở xã hội
Theo quy định tại khoản 4 Điều 62 Luật Nhà ở 2014, bên thuê mua hoặc bên mua nhà ở xã hội được quyền bán lại nhà ở sau khi đã thanh toán hết tiền nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận trong một số điều kiện nhất định (thường là bán lại cho đơn vị quản lý nhà ở xã hội đó hoặc bán cho đối tượng thuộc diện được mua nhà ở xã hội).
Hồ sơ thay thế Sổ đỏ trong trường hợp này bao gồm hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng thuê mua nhà ở ký với chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội kèm theo biên bản bàn giao nhà ở và giấy tờ chứng minh đã thanh toán hết tiền mua hoặc tiền thuê mua nhà ở cho chủ đầu tư.
2. Hai trường hợp đối với quyền sử dụng đất
Khác với nhà ở, quyền sử dụng đất có những quy định khắt khe hơn. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013 vẫn ghi nhận 02 ngoại lệ quan trọng:
Trường hợp 3: Người nhận thừa kế là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Căn cứ khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai 2013, nếu tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam, họ sẽ không được cấp Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, pháp luật cho phép họ được quyền chuyển nhượng hoặc tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế đó cho người khác để hưởng giá trị di sản.
Trường hợp 4: Nhận thừa kế khi đất đủ điều kiện cấp Sổ đỏ
Đây là điểm mới đầy tiến bộ tại khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai 2013. Người sử dụng đất khi nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng, tặng cho khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Điều này có nghĩa là, nếu mảnh đất di sản chưa có sổ nhưng hồ sơ pháp lý sạch, đủ điều kiện cấp sổ theo luật định thì người thừa kế vẫn có thể tiến hành sang tên cho bên thứ ba mà không cần chờ đợi quy trình cấp sổ lần đầu cho mình.
Trích dẫn Điều 168 Luật Đất đai 2013:
"1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất..."
Lời khuyên pháp lý
Dù pháp luật cho phép 04 trường hợp ngoại lệ nêu trên, người dân cần hết sức lưu ý về tính xác thực của các giấy tờ thay thế. Việc sang tên không có Sổ đỏ tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu hồ sơ không minh bạch. Do đó, trước khi thực hiện giao dịch, bạn nên tham khảo ý kiến của các chuyên gia pháp lý hoặc cơ quan đăng ký đất đai địa phương để đảm bảo quyền lợi tối ưu.
hethongphapluat.com – nền tảng dữ liệu pháp luật đáng tin cậy.
• 600.000 văn bản
• 2 triệu bản án và án lệ
• Hàng trăm nghìn thủ tục hành chính
Sang tên Sổ đỏ là thủ tục pháp lý quan trọng để xác lập quyền sở hữu. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng bắt buộc phải có Giấy chứng nhận mới được giao dịch. Theo quy định pháp luật hiện hành (tính đến năm 2020), có 4 trường hợp ngoại lệ cho phép người dân sang tên nhà đất ngay cả khi chưa có Sổ đỏ.