Hợp đồng công chứng chỉ có điểm chỉ mà không ký tên: Liệu có giá trị pháp lý?

Hợp đồng công chứng chỉ có điểm chỉ mà không ký tên: Liệu có giá trị pháp lý?

Thứ tư, 29/7/2020, 20:43 (GMT+7)
Hợp đồng công chứng chỉ có điểm chỉ mà không ký tên: Liệu có giá trị pháp lý?
Nhiều người thắc mắc liệu hợp đồng công chứng chỉ có dấu điểm chỉ (lăn tay) mà thiếu chữ ký thì có bị vô hiệu không? Cùng tìm hiểu quy định chi tiết tại Luật Công chứng 2014 về điều kiện có hiệu lực của văn bản công chứng trong trường hợp này.

Trong các giao dịch dân sự tại Việt Nam, việc ký tên là hình thức phổ biến nhất để xác nhận ý chí và cam kết của các bên tham gia. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan như sức khỏe, trình độ văn hóa hoặc khuyết tật, không ít trường hợp người dân chỉ thực hiện điểm chỉ (lăn tay) vào văn bản. Vậy theo quy định pháp luật hiện hành, cụ thể là bối cảnh năm 2020, một bản hợp đồng công chứng chỉ có dấu điểm chỉ mà thiếu chữ ký thì có được công nhận hiệu lực hay không?

Điểm chỉ trong hợp đồng công chứng
Việc điểm chỉ trong hợp đồng công chứng phải tuân thủ các điều kiện nghiêm ngặt của pháp luật (ảnh minh họa)

Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng công chứng

Để xác định một văn bản có giá trị pháp lý hay không, trước hết chúng ta cần xem xét quy định về thời điểm có hiệu lực. Theo quy định tại Điều 5 Luật Công chứng 2014, văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được Công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Giá trị pháp lý của văn bản này được thể hiện qua các khía cạnh sau:

  • Hiệu lực thi hành: Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
  • Giá trị chứng cứ: Những tình tiết, sự kiện được nêu trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

Như vậy, về nguyên tắc chung, hiệu lực của hợp đồng phụ thuộc vào chữ ký của Công chứng viên và con dấu của tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng). Tuy nhiên, để Công chứng viên thực hiện việc ký đóng dấu này, các bên tham gia giao dịch phải hoàn tất thủ tục ký hoặc điểm chỉ vào văn bản.

Quy định về việc ký và điểm chỉ trong văn bản công chứng

Việc ký và điểm chỉ không phải là sự lựa chọn tùy ý của người dân mà được điều chỉnh chặt chẽ bởi Điều 48 Luật Công chứng 2014. Theo đó, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch phải ký vào hợp đồng, giao dịch trước mặt Công chứng viên.

Về vấn đề điểm chỉ, pháp luật quy định việc điểm chỉ được thực hiện trong các trường hợp cụ thể sau đây:

1. Điểm chỉ thay thế cho việc ký tên

Đây là trường hợp mà người yêu cầu công chứng chỉ cần điểm chỉ mà không cần ký tên. Tuy nhiên, điều này chỉ được chấp nhận nếu thuộc một trong các lý do:

  • Người yêu cầu công chứng, người làm chứng hoặc người phiên dịch không ký được do khuyết tật (ví dụ: run tay, mất khả năng vận động tay...).
  • Người yêu cầu công chứng không biết ký (do trình độ văn hóa).
Công chứng viên chứng kiến ký tên điểm chỉ
Công chứng viên có trách nhiệm hướng dẫn và chứng kiến việc ký, điểm chỉ của các bên (ảnh minh họa)

2. Điểm chỉ đồng thời với việc ký tên

Trong một số trường hợp, dù người dân biết ký nhưng vẫn phải thực hiện cả hai thao tác là ký và điểm chỉ. Các trường hợp này bao gồm:

  • Công chứng di chúc;
  • Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng;
  • Công chứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng (ví dụ: giao dịch có giá trị lớn, người già yếu có dấu hiệu không minh mẫn...).
"Việc điểm chỉ được thực hiện bằng ngón trỏ phải; nếu không điểm chỉ được bằng ngón trỏ phải thì điểm chỉ bằng ngón trỏ trái; trường hợp không thể điểm chỉ bằng cả hai ngón trỏ đó thì điểm chỉ bằng ngón khác và phải ghi rõ việc điểm chỉ đó bằng ngón nào, của bàn tay nào."

Kết luận: Hợp đồng chỉ có điểm chỉ có hiệu lực không?

Tóm lại, câu trả lời là , hợp đồng công chứng chỉ có điểm chỉ vẫn hoàn toàn có hiệu lực pháp luật nếu người tham gia giao dịch thuộc trường hợp không biết ký hoặc không thể ký do khuyết tật. Khi đó, dấu điểm chỉ có giá trị pháp lý tương đương với chữ ký.

Ngược lại, nếu một người có khả năng ký tên bình thường nhưng lại tự ý chỉ điểm chỉ mà không ký (và không thuộc các trường hợp đặc biệt do Công chứng viên yêu cầu) thì văn bản đó có thể bị coi là không đúng trình tự, thủ tục công chứng, dẫn đến rủi ro bị tuyên vô hiệu nếu có tranh chấp xảy ra.

Để đảm bảo an toàn pháp lý, người dân khi thực hiện các giao dịch tại Văn phòng công chứng cần tuân thủ tuyệt đối sự hướng dẫn của Công chứng viên về việc ký và lăn tay. Điều này không chỉ giúp hợp đồng có hiệu lực tức thì mà còn là bằng chứng vững chắc bảo vệ quyền lợi của các bên trước pháp luật.

Đăng ký hethongphapluat.com để trải nghiệm toàn bộ tính năng thông minh.

• Dễ sử dụng
• Nội dung đầy đủ
• Hỗ trợ nhanh chóng

Mô tả

Nhiều người thắc mắc liệu hợp đồng công chứng chỉ có dấu điểm chỉ (lăn tay) mà thiếu chữ ký thì có bị vô hiệu không? Cùng tìm hiểu quy định chi tiết tại Luật Công chứng 2014 về điều kiện có hiệu lực của văn bản công chứng trong trường hợp này.

Tác giả
Hợp đồng công chứng chỉ có điểm chỉ mà không ký tên: Liệu có giá trị pháp lý?
We build our Drupal themes using best practices in choosing right modules, configuration and providing sample content so you can have your Drupal website faster, more stable and easy to maintain.

Bài liên quan

Hướng dẫn chi tiết toàn bộ thủ tục, thành phần hồ sơ và thời hạn giải quyết đề nghị cấp thẻ nhà báo theo quy định mới áp dụng từ năm 2026, cắt giảm
Hướng dẫn chi tiết về các đối tượng được cấp mã số thuế 10 chữ số và 13 chữ số, phân tích cấu trúc chuẩn của mã số thuế theo quy định pháp luật quả
Hướng dẫn chi tiết quy định tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN) từ hoạt động cho thuê nhà, cho thuê tài sản.
Chi tiết 07 trường hợp công chức trong ngành Kiểm sát nhân dân bị tạm đình chỉ công tác, cùng thời hạn và quy trình xử lý theo quy định pháp luật h
Cập nhật chi tiết các mức phạt vi phạm điều kiện buôn bán thuốc thú y từ ngày 01/8/2026 theo Nghị định 204/2026/NĐ-CP.