Đáo hạn bảo hiểm nhân thọ do công ty mua cho: Có phải tự quyết toán thuế thu nhập cá nhân hay không?
Trong xu thế phúc lợi hiện đại, nhiều doanh nghiệp lựa chọn mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động như một giải pháp giữ chân nhân tài hiệu quả. Tuy nhiên, khi hợp đồng bảo hiểm đi đến ngày đáo hạn, cả doanh nghiệp lẫn người lao động đều đối mặt với một câu hỏi pháp lý quan trọng: Khoản tiền nhận về từ bảo hiểm nhân thọ có phải chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) không? Người lao động có phải tự mình thực hiện thủ tục quyết toán thuế đối với khoản thu nhập này tại thời điểm đáo hạn?
Để giải đáp thấu đáo vấn đề này, chúng ta cần đối chiếu trực tiếp với các quy định mới nhất tại Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Nghĩa vụ thuế TNCN tại thời điểm mua và thời điểm đáo hạn bảo hiểm nhân thọ
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, lộ trình tính thuế đối với bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm hưu trí bổ sung và bảo hiểm hưu trí tự nguyện) có tích lũy về phí bảo hiểm do người sử dụng lao động mua cho người lao động được chia làm hai giai đoạn rõ rệt:
- Tại thời điểm mua bảo hiểm: Người lao động chưa phải tính khoản tiền phí bảo hiểm do công ty đóng vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công. Điều này giúp giảm bớt gánh nặng thuế cho người lao động trong suốt quá trình làm việc và tham gia bảo hiểm.
- Tại thời điểm đáo hạn hợp đồng: Đây mới là thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế. Lúc này, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí tích lũy tương ứng với phần người sử dụng lao động mua cho người lao động (tính từ ngày 01/7/2013).
Ví dụ thực tế minh họa:
Anh Nguyễn Văn A được Công ty X mua cho một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tích lũy từ năm 2018. Mỗi năm công ty đóng phí 20 triệu đồng. Đến tháng 7/2026, hợp đồng này đáo hạn với tổng giá trị hoàn lại (phí tích lũy) từ phần công ty đóng là 160 triệu đồng. Tại thời điểm đáo hạn, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có trách nhiệm khấu trừ 10% thuế TNCN (tương đương 16 triệu đồng) trước khi chi trả số tiền còn lại cho anh A. Anh A không phải tự mình đi nộp khoản thuế này.
Xác định phần phí bảo hiểm vượt mức giảm trừ từ ngày 01/01/2026
Một điểm mới cực kỳ quan trọng mà người lao động và bộ phận kế toán doanh nghiệp cần lưu ý là đối với phần phí bảo hiểm nhân thọ phát sinh từ ngày 01/01/2026. Theo quy định, khoản tiền phí tích lũy thuộc diện khấu trừ thuế tại thời điểm đáo hạn sẽ được xác định trên phần đóng bảo hiểm vượt quá mức được giảm trừ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Cụ thể, tổng mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ được trừ khi xác định thu nhập tính thuế tối đa là 03 triệu đồng/người/tháng (bao gồm cả phần do người sử dụng lao động và người lao động đóng).
Do đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần phí bảo hiểm nhân thọ phát sinh từ ngày 01/01/2026 vượt mức 03 triệu đồng/tháng để thông tin kịp thời cho doanh nghiệp bảo hiểm làm căn cứ khấu trừ thuế chính xác khi đáo hạn.
Cá nhân có phải tự quyết toán thuế đối với khoản thu nhập này không?
Câu trả lời là KHÔNG. Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã quy định rất rõ ràng:
"Sau khi doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% trên khoản phí tích lũy, cá nhân người lao động không phải thực hiện quyết toán thuế đối với phần thu nhập từ phí bảo hiểm này."
Quy định này áp dụng đồng nhất cho cả hai trường hợp:
- Bảo hiểm nhân thọ do các doanh nghiệp bảo hiểm thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam cung cấp.
- Bảo hiểm nhân thọ do các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không thành lập tại Việt Nam nhưng được phép bán bảo hiểm tại Việt Nam cung cấp (trường hợp này người sử dụng lao động phải khấu trừ thuế 10% trên khoản phí vượt mức giảm trừ trước khi trả lương cho người lao động).
Như vậy, cơ chế khấu trừ tại nguồn (doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người sử dụng lao động tự khấu trừ và nộp vào ngân sách nhà nước) đã hoàn thành nghĩa vụ thuế của người lao động. Người lao động hoàn toàn yên tâm nhận tiền đáo hạn mà không cần phải thực hiện thêm bất kỳ thủ tục kê khai hay quyết toán thuế TNCN nào khác đối với khoản thu nhập này.
Các trường hợp tổ chức, cá nhân được miễn quyết toán thuế theo năm
Bên cạnh khoản thu nhập từ bảo hiểm nhân thọ đáo hạn, khoản 1 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể các trường hợp tổ chức, cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công không phải thực hiện quyết toán thuế theo năm, bao gồm:
- Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã nộp trong kỳ tính thuế mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau.
- Cá nhân có thêm thu nhập phát sinh tại nơi khác (vãng lai) mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng và đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Đặc biệt, hệ thống thông tin quản lý thuế hiện đại hiện nay đã hỗ trợ tối đa cho người nộp thuế. Trường hợp cá nhân tự quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế, hệ thống sẽ tự động tổng hợp toàn bộ các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm tính thuế, đồng thời tự động khấu trừ số thuế đã bị các tổ chức chi trả giữ lại trong năm, giúp đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính cho người dân.
Tóm lại, khi đáo hạn hợp đồng bảo hiểm nhân thọ do công ty mua cho, người lao động không phải tự quyết toán thuế TNCN. Trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế 10% thuộc về doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người sử dụng lao động. Riêng phần lãi phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là khoản thu nhập được miễn thuế hoàn toàn theo quy định pháp luật.
Đăng ký hethongphapluat.com để trải nghiệm toàn bộ tính năng thông minh.
• Dễ sử dụng
• Nội dung đầy đủ
• Hỗ trợ nhanh chóng
Nhiều người lao động băn khoăn liệu khi đáo hạn hợp đồng bảo hiểm nhân thọ do công ty mua cho thì có phải tự quyết toán thuế thu nhập cá nhân hay không? Cùng tìm hiểu quy định mới nhất tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP để bảo vệ quyền lợi của mình.