Chính thức tăng lương tối thiểu vùng từ 2014: Những thay đổi quan trọng người lao động cần biết
Bước ngoặt mới về thu nhập cho người lao động năm 2014
Ngày 14/11/2013, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 182/2013/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động. Quy định mới này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, thay thế cho Nghị định 103/2012/NĐ-CP.
Việc điều chỉnh tăng lương tối thiểu vùng lần này được đánh giá là một nỗ lực lớn của Chính phủ nhằm hỗ trợ người lao động trong bối cảnh chi phí sinh hoạt ngày càng đắt đỏ. Theo quy định tại Bộ luật Lao động 2012, mức lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.
Chi tiết mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định 182/2013/NĐ-CP
Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 182/2013/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 01/01/2014 được quy định cụ thể như sau:
- Vùng I: 2.700.000 đồng/tháng (tăng 350.000 đồng so với mức cũ là 2.350.000 đồng).
- Vùng II: 2.430.000 đồng/tháng (tăng 330.000 đồng so với mức cũ là 2.100.000 đồng).
- Vùng III: 2.100.000 đồng/tháng (tăng 300.000 đồng so với mức cũ là 1.800.000 đồng).
- Vùng IV: 1.900.000 đồng/tháng (tăng 250.000 đồng so với mức cũ là 1.650.000 đồng).
Như vậy, mức tăng bình quân của năm 2014 dao động từ 15% đến 17% tùy theo từng vùng kinh tế. Đây là mức tăng khá cao, phản ánh sự quan tâm của Nhà nước đối với đời sống của công nhân viên chức và người lao động trực tiếp sản xuất.
Nguyên tắc áp dụng và quyền lợi sát sườn của người lao động
Pháp luật quy định mức lương tối thiểu vùng là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận tiền lương. Tuy nhiên, có hai nguyên tắc quan trọng mà cả người sử dụng lao động và người lao động cần lưu ý:
- Đối với lao động chưa qua đào tạo: Mức lương trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng nêu trên.
- Đối với lao động đã qua đào tạo nghề: Mức lương trả cho người lao động đã qua đào tạo nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng.
Ví dụ, tại Vùng I, đối với một công nhân đã có chứng chỉ nghề, mức lương thấp nhất mà doanh nghiệp phải trả từ ngày 01/01/2014 sẽ là: 2.700.000 + (2.700.000 x 7%) = 2.889.000 đồng/tháng.
"Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định này là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận..."
Trách nhiệm của doanh nghiệp và lời khuyên pháp lý
Các doanh nghiệp cần chủ động rà soát lại hệ thống thang lương, bảng lương của mình để điều chỉnh cho phù hợp với quy định mới tại Nghị định 182/2013/NĐ-CP. Việc chậm trễ hoặc không thực hiện đúng mức lương tối thiểu vùng có thể dẫn đến các tranh chấp lao động không đáng có và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Người lao động cũng cần nắm rõ địa bàn mình đang làm việc thuộc vùng nào (Vùng I, II, III hay IV) để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Danh mục các địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định chi tiết tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
Trong giai đoạn chuyển tiếp từ nay đến cuối năm 2013, các bên cần có sự trao đổi, thương lượng cởi mở để việc áp dụng mức lương mới từ đầu năm 2014 diễn ra thuận lợi, góp phần ổn định quan hệ lao động và thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
hethongphapluat.com – nền tảng dữ liệu pháp luật đáng tin cậy.
• 600.000 văn bản
• 2 triệu bản án và án lệ
• Hàng trăm nghìn thủ tục hành chính
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 182/2013/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng mới áp dụng từ ngày 01/01/2014. Đây là tin vui cho hàng triệu lao động khi mức lương tối thiểu tăng mạnh ở cả 4 vùng, cao nhất lên đến 2,7 triệu đồng/tháng.