Nhận diện hành vi xâm phạm nhãn hiệu: Cẩm nang pháp lý từ Nghị định 65

Nhận diện hành vi xâm phạm nhãn hiệu: Cẩm nang pháp lý từ Nghị định 65

Thứ hai, 28/8/2023, 14:25 (GMT+7)
Nhận diện hành vi xâm phạm nhãn hiệu: Cẩm nang pháp lý từ Nghị định 65
Làm sao để biết nhãn hiệu của bạn đang bị xâm phạm? Bài viết hướng dẫn chi tiết cách xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu theo Nghị định 65/2023/NĐ-CP, giúp doanh nghiệp bảo vệ tài sản trí tuệ hiệu quả.

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhãn hiệu không chỉ là dấu hiệu nhận diện mà còn là tài sản vô giá của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm, làm giả, làm nhái nhãn hiệu diễn ra ngày càng tinh vi. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng, việc nắm vững các quy định về nhận diện hành vi xâm phạm là vô cùng cấp thiết.

Nhận diện hành vi xâm phạm nhãn hiệu theo Nghị định 65
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố sống còn của doanh nghiệp (ảnh minh họa)

Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là gì?

Theo quy định tại Điều 77 Nghị định 65/2023/NĐ-CP, yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được định nghĩa cụ thể như sau:

Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là dấu hiệu gắn với hàng hóa, bao bì, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện dịch vụ, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ.

Như vậy, bất kỳ dấu hiệu nào xuất hiện trên các phương tiện kinh doanh mà có khả năng gây hiểu lầm cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa đều có thể bị xem xét là yếu tố xâm phạm.

Căn cứ và quy trình xác định hành vi vi phạm

Để khẳng định một dấu hiệu có phải là yếu tố xâm phạm hay không, cơ quan chức năng và chủ sở hữu quyền cần dựa trên phạm vi bảo hộ nhãn hiệu. Phạm vi này bao gồm mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hóa, dịch vụ đã được xác nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc các văn bản pháp lý tương đương.

So sánh hàng thật và hàng giả nhãn hiệu
Phân biệt hàng thật và hàng giả dựa trên các dấu hiệu nhãn hiệu (ảnh minh họa)

Quá trình xác định đòi hỏi sự so sánh tỉ mỉ giữa dấu hiệu bị nghi ngờ với nhãn hiệu đang được bảo hộ, đồng thời đối chiếu bản chất của hàng hóa, dịch vụ mang các dấu hiệu đó.

Hai điều kiện bắt buộc để khẳng định xâm phạm

Một hành vi chỉ bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu khi đáp ứng đồng thời cả hai điều kiện sau:

  • Điều kiện về dấu hiệu: Dấu hiệu bị nghi ngờ phải trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn. Điều này thể hiện qua cấu tạo, cách trình bày, phát âm, ý nghĩa hoặc màu sắc khiến người tiêu dùng không dễ dàng phân biệt được với nhãn hiệu gốc.
  • Điều kiện về hàng hóa, dịch vụ: Hàng hóa hoặc dịch vụ mang dấu hiệu nghi ngờ phải trùng hoặc tương tự về bản chất, chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ hoặc phương thức thực hiện với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ.

Việc áp dụng các quy định mới tại Nghị định 65/2023/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 23/8/2023) đã tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng hơn, giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tự bảo vệ mình trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Biến luật khô khan thành nội dung dễ hiểu, dễ áp dụng.

• Tóm tắt nhanh
• Phân tích chi tiết
• Ví dụ minh họa thực tế

Chuyên mục
Lĩnh vực
Mô tả

Làm sao để biết nhãn hiệu của bạn đang bị xâm phạm? Bài viết hướng dẫn chi tiết cách xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu theo Nghị định 65/2023/NĐ-CP, giúp doanh nghiệp bảo vệ tài sản trí tuệ hiệu quả.

Tác giả
Chậm nộp tiền sử dụng đất: Coi chừng 'mất trắng' vì tính sai thời điểm nộp tiền!
We build our Drupal themes using best practices in choosing right modules, configuration and providing sample content so you can have your Drupal website faster, more stable and easy to maintain.

Bài liên quan

Từ ngày 05/8/2026, việc nộp hồ sơ thủ tục hành chính tại ki-ốt thông minh trở nên nhanh chóng và an toàn hơn bao giờ hết nhờ cơ chế tự động xác thự
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu công khai đường dây nóng tiếp nhận phản ánh lạm thu, dạy thêm trái quy định và xử lý nghiêm hiệu trưởng, người đứng đầu
Hướng dẫn chi tiết thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trực tuyến toàn trình qua Cổng Dịch vụ công quốc gia về UBND cấp xã chỉ từ 03