Tăng Mức Trợ Cấp Hưu Trí Xã Hội Lên 540.000 Đồng: Ai Được Hưởng Và Đăng Ký Ở Đâu?

Tăng Mức Trợ Cấp Hưu Trí Xã Hội Lên 540.000 Đồng: Ai Được Hưởng Và Đăng Ký Ở Đâu?

Thứ bảy, 22/8/2026, 08:19 (GMT+7)
Tăng Mức Trợ Cấp Hưu Trí Xã Hội Lên 540.000 Đồng: Ai Được Hưởng Và Đăng Ký Ở Đâu?
Cập nhật quy định mới tại Nghị định 335/2026/NĐ-CP: Mức trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng chính thức tăng lên 540.000 đồng/tháng từ ngày 05/10/2026. Hướng dẫn chi tiết đối tượng, điều kiện hưởng và thủ tục đăng ký mới nhất.

Mức trợ cấp hưu trí xã hội chính thức tăng từ ngày 05/10/2026

Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội, mang đến tín hiệu rất tích cực cho đông đảo người cao tuổi và các đối tượng yếu thế trong xã hội. Điểm nổi bật nhất của chính sách này là việc chính thức nâng mức trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng lên 540.000 đồng/tháng kể từ ngày 05/10/2026.

Cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, Điều 3 của Nghị định 176/2025/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung. Mức hưởng trợ cấp hưu trí xã hội trước đây là 500.000 đồng/tháng nay được điều chỉnh tăng thêm 40.000 đồng/tháng, đạt mốc 540.000 đồng/tháng.

Đồng thời, pháp luật cũng quy định rõ ràng rằng trong trường hợp người thuộc đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí xã hội mà đồng thời thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng khác thì sẽ được hưởng mức chế độ trợ cấp nào cao hơn, đảm bảo tối đa quyền lợi an sinh cho người dân.

Cán bộ an sinh xã hội hướng dẫn người cao tuổi đăng ký hưởng trợ cấp hưu trí xã hội
Chính sách tăng mức trợ cấp hưu trí xã hội giúp nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi (ảnh minh họa)

Điều kiện chi tiết để người cao tuổi được nhận trợ cấp hưu trí xã hội

Không phải tất cả người cao tuổi đều tự động được nhận khoản trợ cấp này. Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 176/2025/NĐ-CP, công dân Việt Nam cần đáp ứng các điều kiện sau đây để được xét hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng:

  • Trường hợp 1 (Nhóm chung): Công dân đủ 75 tuổi trở lên; không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng (hoặc đang hưởng nhưng mức hưởng thấp hơn mức trợ cấp hưu trí quy định) và có bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội gửi cơ quan có thẩm quyền.
  • Trường hợp 2 (Nhóm hộ nghèo, cận nghèo): Công dân từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc diện hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo của Chính phủ, đồng thời không hưởng lương hưu/trợ cấp BHXH hằng tháng (hoặc hưởng thấp hơn mức trợ cấp hưu trí) và có đơn đề nghị.

Chính sách này thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc của Nhà nước, tạo mạng lưới an sinh đa tầng để chăm lo đời sống vật chất cũng như tinh thần cho người cao tuổi không có nguồn thu nhập ổn định khi về già.

Nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng/tháng

Đi đôi với việc tăng trợ cấp hưu trí xã hội, tại Điều 4 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, Chính phủ cũng quy định điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội tăng lên mức 540.000 đồng/tháng (tăng so với mức chuẩn cũ 500.000 đồng/tháng).

Mức chuẩn trợ giúp xã hội chính là căn cứ cốt lõi để tính toán mức trợ cấp xã hội hằng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng cũng như tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em trên toàn quốc. Các nhóm đối tượng được hưởng chính sách trợ giúp xã hội bao gồm:

  • Trẻ em dưới 16 tuổi thuộc diện hoàn cảnh đặc biệt (trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, trẻ bị bỏ rơi chưa có người nhận nuôi, trẻ có cha/mẹ chết hoặc mất tích...);
  • Người từ đủ 16 tuổi đang hưởng trợ cấp xã hội tiếp tục đi học phổ thông, học nghề, đại học văn bằng thứ nhất;
  • Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo; người đơn thân nghèo đang nuôi con dưới 16 tuổi;
  • Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người phụng dưỡng; người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng;
  • Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo/cận nghèo tại các địa bàn xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

Mức trợ cấp hưu trí hay trợ cấp xã hội hằng tháng thực tế sẽ bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội (540.000 đồng/tháng) nhân với hệ số tương ứng từ 1,0 đến 3,0 tùy thuộc vào từng nhóm đối tượng cụ thể.

Thủ tục đăng ký hưởng trợ cấp hưu trí xã hội thực hiện thế nào?

Theo nội dung sửa đổi tại khoản 2 Điều 31 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, quy trình, thủ tục đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội được đơn giản hóa tối đa, giúp người dân dễ dàng tiếp cận:

  1. Nộp hồ sơ: Người cao tuổi hoặc người giám hộ lập Tờ khai đề nghị theo mẫu quy định và gửi trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia, gửi qua bưu chính hoặc nộp trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một cửa cấp xã/phường.
  2. Thời gian giải quyết: Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Chủ tịch UBND cấp xã tiến hành xác thực dữ liệu trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thẩm định và ban hành quyết định trợ cấp.
  3. Thời điểm hưởng: Người cao tuổi được nhận tiền trợ cấp hưu trí xã hội bắt đầu tính từ tháng Chủ tịch UBND cấp xã ký quyết định.

Bên cạnh đó, khi người đang hưởng trợ cấp qua đời, tổ chức hoặc cá nhân đứng ra lo mai táng sẽ được nhận mức hỗ trợ chi phí mai táng tối thiểu bằng 20 lần mức trợ cấp hưu trí xã hội (tương ứng tối thiểu 10,8 triệu đồng).

hethongphapluat.com giúp bạn tiếp cận thông tin pháp luật nhanh chóng và chính xác.

• Tìm kiếm nhanh
• Dẫn chiếu tức thì
• Nội dung chuẩn xác

Chuyên mục
Mô tả

Cập nhật quy định mới tại Nghị định 335/2026/NĐ-CP: Mức trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng chính thức tăng lên 540.000 đồng/tháng từ ngày 05/10/2026. Hướng dẫn chi tiết đối tượng, điều kiện hưởng và thủ tục đăng ký mới nhất.

Tác giả
Tăng Mức Trợ Cấp Hưu Trí Xã Hội Lên 540.000 Đồng: Ai Được Hưởng Và Đăng Ký Ở Đâu?
We build our Drupal themes using best practices in choosing right modules, configuration and providing sample content so you can have your Drupal website faster, more stable and easy to maintain.

Bài liên quan

Hướng dẫn chi tiết hồ sơ, trình tự thủ tục cấp lại, đổi, điều chỉnh thông tin trên sổ BHXH, thẻ BHYT mới nhất năm 2026.
Quy định chi tiết về trách nhiệm ban hành Quy chế tiền lương và thu nhập tại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Công an nhân dân theo Thông tư 139
Học tiến sĩ ở nước ngoài kết hợp nghiên cứu thực địa tại nước khác được công nhận khi nào?