Sống chung không đăng ký kết hôn trước 1987: Vợ cả hay vợ hai mới được hưởng thừa kế?
Vấn đề pháp lý về hôn nhân thực tế trước năm 1987
Trong bối cảnh lịch sử và pháp lý tại Việt Nam, việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn (thường gọi là hôn nhân thực tế) là một vấn đề phức tạp, đặc biệt là khi giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản. Theo thông tin vụ việc, người cha đã chung sống với cả mẹ cả và mẹ hai trước thời điểm 03/01/1987.
Tại thời điểm tháng 05/2021, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết.
Do đó, để xác định tư cách người thừa kế, chúng ta phải đối chiếu với các văn bản hướng dẫn về thi hành Luật Hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ, cụ thể là Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 và Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.
Xác định tư cách thừa kế của người vợ cả
Theo hướng dẫn tại mục 3 của Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; nếu không đăng ký kết hôn thì vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng (hôn nhân thực tế).
Vì mẹ cả và cha bạn chung sống từ trước năm 1987, mối quan hệ này được coi là hôn nhân hợp pháp dù không có giấy chứng nhận kết hôn. Do đó, khi cha bạn qua đời, mẹ cả đương nhiên là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Tại sao người vợ hai không được hưởng thừa kế?
Mặc dù mẹ hai cũng chung sống với cha bạn trước năm 1987, nhưng pháp luật Việt Nam luôn đề cao nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Chế độ đa thê chỉ được thừa nhận trong những trường hợp đặc biệt xác lập trước khi các luật về hôn nhân gia đình đầu tiên có hiệu lực (trước năm 1960 ở miền Bắc và trước năm 1977 ở miền Nam).
Việc cha bạn đã có vợ cả (hôn nhân thực tế hợp pháp) mà tiếp tục chung sống với mẹ hai là vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng. Do đó, mối quan hệ giữa cha bạn và mẹ hai không được pháp luật thừa nhận là quan hệ vợ chồng. Vì không phải là vợ chồng hợp pháp, mẹ hai không có quyền thừa kế di sản của cha bạn theo diện thừa kế theo pháp luật.
Nguyên tắc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp này
Khi người cha qua đời không để lại di chúc, toàn bộ khối tài sản (bao gồm 02 thửa đất) sẽ được chia theo pháp luật. Căn cứ Điều 650 và Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, di sản sẽ được chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất.
Danh sách những người thừa kế hợp pháp trong tình huống này bao gồm:
- Mẹ cả: Vợ hợp pháp (hôn nhân thực tế).
- 10 người con: Bao gồm tất cả các con của mẹ cả và mẹ hai (pháp luật không phân biệt con trong hay ngoài giá thú đối với quyền thừa kế từ cha).
Như vậy, tổng cộng có 11 suất thừa kế bằng nhau. Mẹ hai tuy không được hưởng thừa kế với tư cách là vợ, nhưng các con của bà vẫn được hưởng quyền lợi đầy đủ như các anh chị em khác.
Lưu ý: Nội dung tư vấn trên được thực hiện dựa trên các quy định pháp luật có hiệu lực tại thời điểm tháng 05/2021. Để đảm bảo quyền lợi tốt nhất, các bên nên thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại cơ quan công chứng có thẩm quyền.
Chỉ một cú click để truy cập toàn bộ nội dung liên quan.
• Liên kết điều khoản tức thì
• Không bỏ sót thông tin
• Tránh nhầm lẫn pháp lý
Truy cập hethongphapluat.com để biến luật phức tạp thành kiến thức dễ hiểu.
Phân tích chi tiết quy định về hôn nhân thực tế xác lập trước năm 1987 và quyền thừa kế di sản của người vợ trong trường hợp đa thê theo bối cảnh pháp luật năm 2021.