Hồ sơ và thủ tục cấp mã số vùng trồng theo Nghị quyết 36/2026/NQ-CP: Cấp xã giải quyết thần tốc trong bao nhiêu ngày?
Trước làn sóng xuất khẩu nông sản bùng nổ, mã số vùng trồng được ví như “tấm hộ chiếu vàng” giúp trái cây, rau màu và các sản vật nông nghiệp của Việt Nam tự tin vươn ra biển lớn. Nhằm xóa bỏ tình trạng thủ tục rườm rà, giải tỏa ách tắc cho bà con nông dân và các hợp tác xã, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 36/2026/NQ-CP với những cải cách đột phá: phân quyền tiếp nhận về cấp cơ sở, áp dụng dịch vụ công trực tuyến toàn trình và rút ngắn thời hạn giải quyết chỉ còn vài ngày làm việc.
1. Đơn giản hóa thành phần hồ sơ: Chỉ cần 01 Đơn đề nghị duy nhất
Nếu trước đây việc xin cấp mã số vùng trồng đòi hỏi nhiều tầng nấc hồ sơ minh chứng kỹ thuật, thì theo điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng đã được tinh giản tối đa, người dân và doanh nghiệp chỉ cần chuẩn bị 01 Đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng theo mẫu tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tại mẫu đơn này, người đề nghị kê khai hai nhóm dữ liệu trọng tâm sau:
- Thông tin về chủ thể đăng ký: Đối với hợp tác xã hoặc doanh nghiệp, bao gồm tên pháp nhân, địa chỉ trụ sở, mã định danh doanh nghiệp hoặc mã số thuế, họ tên người đại diện pháp luật, số điện thoại và email. Đối với cá nhân hoặc hộ gia đình, kê khai rõ họ tên người đại diện, số Căn cước công dân (hoặc thẻ Căn cước), ngày cấp, cơ quan cấp cùng thông tin liên lạc.
- Thông tin mô tả vùng canh tác: Ghi rõ tên vùng trồng, vị trí địa lý, chủng loại giống cây trồng canh tác, năm tuổi của cây (nếu là cây lâu năm như sầu riêng, thanh long, bưởi), diện tích canh tác tính theo hecta, lịch thời vụ thu hoạch dự kiến, ước tính sản lượng, số lượng hộ nông dân tham gia liên kết, quy trình kỹ thuật đang áp dụng (VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ...) và nhật ký ghi chép canh tác.
Đặc biệt, nếu đăng ký vùng trồng phục vụ mục tiêu xuất khẩu, người nộp đơn tích chọn cụ thể các quốc gia dự kiến đưa nông sản sang (như Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản...) và cam kết tuân thủ nghiêm ngặt mọi rào cản kỹ thuật kiểm dịch thực vật theo thỏa thuận song phương.
2. Gỡ bỏ nút thắt mã định danh thửa đất trong cơ sở dữ liệu quốc gia
Một trong những vướng mắc lớn nhất trong thực tiễn thời gian qua là nhiều vùng canh tác của bà con ở nông thôn, miền núi chưa kịp cập nhật số định danh thửa đất trên hệ thống số hóa đất đai. Khắc phục triệt để rào cản này, quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP đã mở ra cơ chế tự kê khai cực kỳ thông thoáng:
“Vị trí thửa đất được xác định theo mã định danh của thửa đất trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trường hợp thửa đất đề nghị cấp mã số vùng trồng chưa có hoặc chưa thể khai thác mã định danh thửa đất thì tổ chức, cá nhân đề nghị cấp mã số vùng trồng tự kê khai về diện tích và vị trí, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo thực hiện xác nhận thông tin trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm.”
Theo đó, tùy điều kiện dữ liệu thực tế tại địa phương, người dân được linh hoạt lựa chọn một trong 3 cách kê khai thửa đất:
- Đã có mã định danh thửa đất: Điền chính xác mã định danh của từng thửa trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai kèm diện tích chi tiết.
- Chưa có mã định danh nhưng có hồ sơ địa chính: Kê khai theo số thứ tự thửa đất, số tờ bản đồ địa chính và diện tích tương ứng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Chưa có cả hai thông tin trên: Người dân được quyền tự kê khai diện tích và vị trí ranh giới thực tế canh tác. Tính chuẩn xác sẽ do UBND cấp xã xác nhận khi kiểm tra thực địa hoặc thông qua hậu kiểm.
Cũng cần lưu ý rằng, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP và Điều 64 Luật Trồng trọt 2018, mã số vùng trồng là công cụ quản trị kỹ thuật nhằm phục vụ truy xuất nguồn gốc nông sản, hoàn toàn không xác lập và không thay thế quyền sử dụng đất của bất kỳ chủ thể nào.

3. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết: UBND cấp xã cấp mã số thần tốc
Cải cách mang tính bước ngoặt của Nghị quyết là đưa dịch vụ công về sát người dân nhất có thể: chuyển giao toàn bộ thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết thủ tục cấp mã số vùng trồng về cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có vùng trồng đóng chân, thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia.
Thời hạn giải quyết được rút ngắn rõ rệt tùy thuộc vào mục đích tiêu thụ nông sản:
- Trường hợp chỉ tiêu thụ nội địa (không đăng ký xuất khẩu): Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ trên Cổng dịch vụ công, Chủ tịch UBND cấp xã phải ban hành Thông báo cấp mã số vùng trồng (Mẫu Phụ lục III). Trường hợp từ chối phải có văn bản nêu rõ lý do. Việc thẩm định tính tuân thủ thực tế được chuyển sang cơ chế hậu kiểm trong vòng tối đa 03 tháng.
- Trường hợp đăng ký xuất khẩu sang thị trường nước ngoài: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc, Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức kiểm tra thực địa và ra Thông báo cấp mã số; đồng thời phê duyệt ngay đối với nước nhập khẩu chấp thuận cơ chế tự phê duyệt của Việt Nam. Trường hợp thị trường bắt buộc kiểm tra song phương, hồ sơ sẽ được cơ quan chuyên môn cấp tỉnh chuyển tiếp lên cơ quan chuyên trách thuộc Bộ để đàm phán cấp mã.
4. Thủ tục đăng ký bổ sung thị trường xuất khẩu và cấp lại mã số
Nhằm giảm thiểu phiền hà cho vùng trồng khi muốn mở rộng thị phần xuất khẩu nông sản, quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP nêu rõ các cơ chế đặc thù:
- Bổ sung thị trường xuất khẩu: Vùng trồng đã có mã số khi muốn đưa nông sản sang thêm nhiều quốc gia mới chỉ cần nộp đơn đề nghị bổ sung theo mẫu Phụ lục I. Mã số vùng trồng ban đầu vẫn được giữ nguyên vẹn, không phát sinh việc thu hồi hay đổi mã định danh mới.
- Cấp lại mã số khi biến động thông tin: Nếu có sự thay đổi người đại diện, đổi tên tổ chức liên kết hoặc do địa phương sáp nhập, điều chỉnh địa giới hành chính, chủ thể chỉ cần nộp đơn đề nghị cấp lại theo Phụ lục V. Trong vòng 02 ngày làm việc, UBND cấp xã đối chiếu hồ sơ lưu trữ và ban hành Thông báo cấp lại cho chủ thể.
- Cơ chế nộp hồ sơ bản giấy dự phòng: Khi hệ thống Cổng dịch vụ công quốc gia gặp sự cố gián đoạn hoặc bà con nông dân chưa có điều kiện tiếp cận máy tính, internet, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 36/2026/NQ-CP cho phép nộp trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện về UBND cấp xã. Cán bộ một cửa sẽ có trách nhiệm số hóa và tải dữ liệu lên cổng công ngay khi mạng khôi phục.
5. Trách nhiệm pháp lý và chế tài xử lý vi phạm về mã số vùng trồng
Nguyên tắc cốt lõi của thủ tục cải cách này là “tự kê khai, tự chịu trách nhiệm” đi đôi với cơ chế hậu kiểm nghiêm minh. Việc tạo điều kiện thuận lợi trong cấp mã không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý chất lượng.
Theo quy định tại Nghị định 31/2023/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, mọi hành vi gian lận hồ sơ, mượn danh mã số vùng trồng, tự ý sử dụng mã số vùng trồng của tổ chức, cá nhân khác để xuất khẩu nông sản hoặc không tuân thủ quy trình kiểm soát dịch hại kiểm dịch thực vật đều sẽ bị xử phạt tiền rất nặng, đồng thời áp dụng biện pháp tạm dừng hoặc thu hồi mã số vĩnh viễn theo Phụ lục VIII và Phụ lục IX của Nghị quyết 36/2026/NQ-CP.
Các nhà vườn, hợp tác xã cần chủ động chuẩn bị kỹ sổ tay nhật ký đồng ruộng, áp dụng quy trình canh tác an toàn sinh học và đăng ký sớm trên Cổng dịch vụ công quốc gia để nắm bắt cơ hội vàng đưa nông sản Việt Nam thâm nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Chỉ cần truy cập hethongphapluat.com, bạn có thể tra cứu mọi thông tin pháp luật cần thiết.
• Nhanh chóng
• Chính xác
• Tiện lợi
Hướng dẫn chi tiết hồ sơ, thủ tục và thời hạn cấp mã số vùng trồng theo Nghị quyết 36/2026/NQ-CP. Thẩm quyền UBND cấp xã giải quyết trực tuyến từ 3 đến 10 ngày, gỡ vướng mã định danh đất đai.