Mất nhà, thương vong do thiên tai, hỏa hoạn được Nhà nước cứu trợ khẩn cấp bao nhiêu tiền?
Chính sách trợ giúp xã hội khẩn cấp: Chỗ dựa vững chắc cho người dân khi bão lũ, hỏa hoạn ập đến
Thiên tai, lũ lụt, sạt lở đất hay hỏa hoạn nghiêm trọng là những sự cố bất khả kháng gây ra nhiều thiệt hại nặng nề về người và tài sản đối với các gia đình. Nhằm kịp thời hỗ trợ người dân sớm ổn định cuộc sống và khắc phục hậu quả sau biến cố, Nhà nước đã ban hành các khung chính sách cứu trợ xã hội đột xuất với từng định mức chi tiết, cụ thể cho từng trường hợp thiệt hại.
Các định mức trợ giúp này được xây dựng trên cơ sở các quy định tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung nâng mức chuẩn bởi Nghị định 76/2024/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

1. Mức hỗ trợ tài chính cho hộ gia đình bị hư hỏng hoặc mất hoàn toàn nhà ở
Nhà ở là tài sản lớn nhất và là chỗ dựa sinh hoạt cốt yếu của người dân. Khi nhà ở bị hủy hoại hoàn toàn hoặc có nguy cơ mất an toàn do thiên tai, chính sách trợ giúp khẩn cấp về chỗ ở quy định tại Điều 15 Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định cụ thể các mức hỗ trợ tối thiểu như sau:
- Hỗ trợ làm nhà ở mới (tối thiểu 40 triệu đồng/hộ): Theo quy định tại khoản 1 Điều 15, hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy hoàn toàn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn nơi ở sẽ được xem xét hỗ trợ kinh phí dựng lại nhà ở với mức tối thiểu 40.000.000 đồng/hộ.
- Hỗ trợ di dời khẩn cấp (tối thiểu 30 triệu đồng/hộ): Tại khoản 2 Điều 15, hộ gia đình phải di dời nhà ở khẩn cấp theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền do nằm trong vùng nguy cơ cao về sạt lở đất, lũ ống, lũ quét, hỏa hoạn hoặc nguy cơ thiên tai khác được hỗ trợ kinh phí di dời mức tối thiểu 30.000.000 đồng/hộ.
- Hỗ trợ sửa chữa nhà ở bị hư hỏng nặng (tối thiểu 20 triệu đồng/hộ): Căn cứ khoản 3 Điều 15, đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn có nhà bị hư hỏng nặng, kết cấu khung cột sụp đổ không thể tiếp tục cư trú nếu chưa sửa chữa thì mức hỗ trợ sửa chữa thấp nhất là 20.000.000 đồng/hộ.
2. Hỗ trợ viện phí và chi phí điều trị cho người bị thương nặng
Đối với các vụ việc tai nạn nghiêm trọng hoặc thảm họa thiên tai gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người dân, chính sách hỗ trợ y tế khẩn cấp giúp người bị thương yên tâm điều trị. Cụ thể, tại Điều 13 Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định:
"1. Người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc do các lý do bất khả kháng khác tại nơi cư trú được xem xét hỗ trợ với mức tối thiểu bằng 10 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này."
Với mức chuẩn trợ giúp xã hội hiện hành là 500.000 đồng/tháng theo quy định tại Nghị định 76/2024/NĐ-CP, mức hỗ trợ điều trị tối thiểu cho người bị thương nặng là 5.000.000 đồng/người (nếu địa phương áp dụng mức chuẩn cao hơn, ví dụ mức chuẩn 540.000 đồng thì khoản hỗ trợ tương ứng là 5.400.000 đồng/người).
Trường hợp người bị thương nặng ngoài nơi cư trú mà không có người thân thích đi cùng chăm sóc, cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp cấp cứu sẽ có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cấp huyện nơi điều trị xem xét quyết định hỗ trợ trong thời hạn 02 ngày làm việc.
3. Hỗ trợ chi phí mai táng đối với trường hợp tử vong hoặc mất tích
Nỗi đau mất đi người thân trong các đợt thiên tai hay tai nạn luôn vô cùng lớn. Để chia sẻ gánh nặng tài chính với gia đình nạn nhân, Điều 14 Nghị định 20/2021/NĐ-CP đưa ra quy định chi tiết về hỗ trợ mai táng phí:
- Hộ gia đình có người tử vong hoặc mất tích do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng được xem xét hỗ trợ chi phí mai táng với mức tối thiểu bằng 50 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội (tương đương tối thiểu 25.000.000 đồng - 27.000.000 đồng tùy mức chuẩn áp dụng tại địa phương).
- Đối với trường hợp người chết không có thân nhân đứng ra nhận trách nhiệm lo hậu sự, các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp đứng ra tổ chức mai táng sẽ được ngân sách nhà nước hỗ trợ chi phí thực tế nhưng tối thiểu không thấp hơn 50 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội.
4. Cứu trợ lương thực và nhu yếu phẩm thiết yếu khẩn cấp
Song song với hỗ trợ về tài chính và nhà ở, chính sách cứu trợ lương thực đóng vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân vượt qua cơn thắt nghèo thiếu đói tức thời. Căn cứ Điều 12 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, mức cứu trợ lương thực được quy định cụ thể:

- Cứu trợ dịp Tết Nguyên đán: Hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian 01 tháng đối với hộ gia đình thiếu đói.
- Cứu trợ đột xuất do thiên tai, mất mùa: Người dân thiếu đói do hỏa hoạn, bão lũ, hạn hán, mất mùa hoặc sự cố bất khả kháng được hỗ trợ không quá 03 tháng cho mỗi đợt trợ giúp từ nguồn dự trữ quốc gia hoặc nguồn lực địa phương.
- Cấp phát nhu yếu phẩm tại chỗ: Các hộ gia đình mất nhà ở, không thể tự đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu được xem xét cấp phát ngay lều bạt, chăn màn, thực phẩm, nước sạch, dụng cụ nấu ăn và chất đốt.
Quy trình xét duyệt được tiến hành nhanh chóng từ cấp thôn, bản lập danh sách trình UBND cấp xã quyết định cứu trợ ngay lập tức đối với các trường hợp cấp thiết, bảo đảm không một người dân nào bị thiếu đói hay rét lạnh sau thiên tai.
Đăng ký hethongphapluat.com để trải nghiệm toàn bộ tính năng thông minh.
• Dễ sử dụng
• Nội dung đầy đủ
• Hỗ trợ nhanh chóng
Tổng hợp chi tiết các định mức hỗ trợ khẩn cấp đối với hộ dân bị mất nhà ở, người bị thương nặng, mai táng phí và trợ cấp lương thực do thiên tai, hỏa hoạn theo quy định pháp luật hiện hành.