Đang báo trước nghỉ việc mà bị ốm: Có được tính vào thời gian chờ đợi không?
Trong quá trình làm việc, việc người lao động quyết định xin nghỉ việc và thực hiện nghĩa vụ báo trước là điều hết sức bình thường. Tuy nhiên, một tình huống phát sinh khiến nhiều người lo lắng là: Nếu trong khoảng thời gian đang báo trước đó mà chẳng may bị ốm đau, phải nghỉ điều trị thì thời gian nghỉ ốm này có được tính vào thời hạn báo trước hay không? Liệu ngày nghỉ việc cuối cùng có bị lùi lại?
Người lao động lo lắng về quyền lợi khi bị ốm trong thời gian chờ nghỉ việc (ảnh minh họa)
Thời hạn báo trước khi nghỉ việc theo quy định của Bộ luật Lao động 2012
Tại thời điểm hiện tại (tháng 07/2020), các quan hệ lao động vẫn đang được điều chỉnh bởi Bộ luật Lao động 2012. Theo quy định tại Điều 37 của văn bản này, người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải tuân thủ thời hạn báo trước nhất định tùy thuộc vào loại hợp đồng:
- Ít nhất 45 ngày: Đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
- Ít nhất 30 ngày: Đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn.
- Ít nhất 03 ngày làm việc: Đối với các trường hợp làm việc theo hợp đồng mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng, hoặc các trường hợp đặc biệt như không được bố trí đúng công việc, không được trả lương đầy đủ, bị ngược đãi...
"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động... 2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước: a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này; b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này; c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thì thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."
Nghỉ ốm đau có được tính vào thời hạn báo trước không?
Đây là câu hỏi trọng tâm mà nhiều người lao động thắc mắc. Pháp luật lao động hiện hành không có quy định nào cấm người lao động nghỉ ốm trong thời gian báo trước, cũng không quy định rằng thời gian nghỉ ốm sẽ làm gián đoạn hoặc kéo dài thêm thời hạn báo trước.
Về nguyên tắc, thời hạn báo trước là một khoảng thời gian liên tục kể từ ngày người lao động thông báo cho người sử dụng lao động về việc nghỉ việc. Do đó, thời gian nghỉ ốm đau vẫn được tính vào thời hạn báo trước khi nghỉ việc. Người sử dụng lao động không có quyền yêu cầu người lao động phải làm bù những ngày nghỉ ốm này hoặc lùi ngày chấm dứt hợp đồng lao động, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác.
Hồ sơ y tế là căn cứ quan trọng để xác định chế độ nghỉ ốm (ảnh minh họa)
Quyền lợi bảo hiểm xã hội khi nghỉ ốm trong thời gian báo trước
Dù đang trong giai đoạn chờ nghỉ việc, người lao động vẫn đang là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Vì vậy, nếu bị ốm đau, tai nạn (không phải tai nạn lao động) phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, người lao động vẫn được hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2014.
Cụ thể, theo Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, điều kiện hưởng chế độ ốm đau bao gồm:
"Điều 25. Điều kiện hưởng chế độ ốm đau 1. Bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế. Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định thì không được hưởng chế độ ốm đau."
Như vậy, trong thời gian báo trước, nếu người lao động có đủ hồ sơ (giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH) thì vẫn được cơ quan BHXH chi trả trợ cấp ốm đau theo mức quy định (thường là 75% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc).
Lời khuyên pháp lý cho người lao động
Để đảm bảo quyền lợi tối đa và tránh các tranh chấp không đáng có với doanh nghiệp, người lao động cần lưu ý:
- Thông báo kịp thời: Ngay khi bị ốm, hãy thông báo cho bộ phận nhân sự hoặc quản lý trực tiếp để họ nắm bắt tình hình.
- Hoàn thiện hồ sơ y tế: Phải đi khám tại các cơ sở y tế có thẩm quyền và xin Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ giải quyết chế độ.
- Bàn giao công việc: Dù bị ốm, nếu sức khỏe cho phép, hãy cố gắng phối hợp bàn giao công việc từ xa hoặc ngay sau khi hồi phục để hoàn tất thủ tục nghỉ việc đúng hạn.
Tóm lại, việc bị ốm trong thời gian báo trước không làm thay đổi ngày chấm dứt hợp đồng lao động đã xác định. Người lao động vẫn được tính thời gian này vào thời hạn báo trước và vẫn được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.
Truy cập hethongphapluat.com để biến luật phức tạp thành kiến thức dễ hiểu.
• Phân tích điều luật chi tiết
• Ví dụ thực tế rõ ràng
• Lưu ý áp dụng trong thực tiễn
Phân tích quy định pháp luật về việc nghỉ ốm trong thời gian báo trước khi nghỉ việc theo Bộ luật Lao động 2012 và Luật Bảo hiểm xã hội 2014. Tìm hiểu xem thời gian nghỉ ốm có làm kéo dài thời hạn báo trước hay không.