Nghị định số 764-TTg được ban hành năm 1956 bởi Thủ tướng Chính phủ, ban hành kèm theo Điều lệ đăng ký hộ tịch nhằm thiết lập hệ thống quản lý, đăng ký thống nhất các sự kiện hộ tịch quan trọng của công dân như sinh, tử, kết hôn và các biến động hộ tịch khác, thay thế cho các thể lệ cũ trước đây.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Điều lệ này áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam cư trú trong nước, Việt kiều về nước và ngoại kiều đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời, văn bản cũng quy định các trường hợp áp dụng châm chước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, người miền Nam tập kết ra Bắc và quân nhân trong thời kỳ chiến tranh.
Quy định chung về đăng ký hộ tịch và xử lý hồ sơ cũ
- Bãi bỏ thể lệ cũ: Điều lệ này chính thức bãi bỏ toàn bộ các quy định, thể lệ về đăng ký hộ tịch đã ban hành trước đây.
- Đăng ký quá hạn và đăng ký lại: Đối với các sự kiện sinh, tử, kết hôn xảy ra trước ngày ban hành Điều lệ mà chưa đăng ký thì được phép đăng ký quá hạn. Trường hợp đã đăng ký nhưng sổ sách bị thất lạc, không xin được bản sao thì được đăng ký lại tại nơi xảy ra sự việc hoặc nơi cư trú hiện tại (trong trường hợp đặc biệt).
- Thừa nhận giấy tờ cũ: Sổ sách và giấy chứng nhận hộ tịch do chính quyền đối phương hoặc chính quyền miền Nam để lại nói chung đều được công nhận. Khi cấp bản sao cho người dân, Ủy ban hành chính sẽ thực hiện theo mẫu mới ban hành kèm theo Điều lệ này.
- Chế tài xử lý vi phạm: Cán bộ, nhân viên sơ xuất hoặc cố ý làm hư hỏng, mất mát sổ sách hộ tịch, làm sai hoặc làm chậm trễ việc đăng ký sẽ bị xử lý theo pháp luật. Người có nghĩa vụ đăng ký nhưng để quá hạn sẽ bị phê bình hoặc phạt vi cảnh. Hành vi tự ý sửa chữa, giả mạo giấy chứng nhận hộ tịch sẽ bị truy cứu trách nhiệm pháp lý.
Thủ tục đăng ký khai sinh
- Thời hạn và người khai sinh: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày sinh, người có nghĩa vụ (cha, mẹ, thân nhân, láng giềng hoặc người chứng kiến việc sinh) phải đến khai báo với Ủy ban hành chính sở tại.
- Giấy tờ xuất trình: Người đi khai sinh phải trình giấy chứng nhận việc sinh do cơ sở y tế (bác sĩ, y sĩ, y tá, bà đỡ) hoặc giấy xác nhận của trưởng xóm, trưởng ban đại diện dân phố cấp. Trường hợp cha hoặc mẹ trực tiếp đi khai thì không bắt buộc phải có giấy chứng nhận nhưng phải có một người làm chứng đi cùng.
- Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi: Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi phải báo ngay cho Công an sở tại lập biên bản, tìm người nuôi dưỡng và chuyển biên bản sang Ủy ban hành chính để tiến hành đăng ký khai sinh.
- Sinh trên phương tiện giao thông: Nếu việc sinh xảy ra trên tàu hoặc xe, người phụ trách phương tiện có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận việc sinh để làm cơ sở cho người mẹ khai sinh cho con sau này.
Thủ tục đăng ký kết hôn
- Địa điểm và thời hạn báo trước: Việc kết hôn phải được đăng ký tại nơi cư trú của vợ hoặc chồng và phải báo trước ít nhất 8 ngày cho Ủy ban hành chính sở tại.
- Thủ tục thực hiện: Khi đăng ký, cả hai vợ chồng cùng hai người làm chứng phải trực tiếp có mặt tại Ủy ban hành chính để khai và ký vào sổ hộ tịch. Trường hợp vợ hoặc chồng chưa đủ 18 tuổi thì phải có cha, mẹ hoặc người giám hộ đi cùng để khai và ký sổ.
- Quy trình đăng ký: Ủy ban hành chính có trách nhiệm phổ biến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi hai bên tự nguyện đồng ý kết hôn, Ủy ban sẽ tuyên bố họ chính thức là vợ chồng và tiến hành đăng ký vào sổ.
- Kết hôn lại: Vợ chồng đã ly hôn nay muốn kết hôn lại với nhau cũng phải thực hiện đầy đủ các thủ tục đăng ký như kết hôn lần đầu và phải ghi rõ nội dung "kết hôn lại" trong sổ hộ tịch.
Thủ tục đăng ký khai tử
- Thời hạn khai tử và cấp phép mai táng: Khi có người chết, thân nhân, láng giềng hoặc người quen phải khai báo với Công an sở tại trong vòng 24 giờ để xin phép mai táng. Trong vòng 7 ngày kể từ ngày chết, phải mang giấy phép mai táng đến Ủy ban hành chính nơi chết để đăng ký khai tử.
- Chết tại cơ sở tập thể, dịch vụ: Nếu chết tại bệnh viện, nhà hộ sinh, cơ quan, xí nghiệp, trường học, công trường, nhà trọ... thì người phụ trách hoặc chủ cơ sở phải khai báo với Công an để xin phép mai táng. Nếu quá 7 ngày mà thân nhân không đến, người phụ trách/chủ cơ sở phải trực tiếp khai tử với Ủy ban hành chính.
- Chết trong trại cải tạo: Ban Giám thị trại cải tạo có trách nhiệm khai tử cho phạm nhân với Ủy ban hành chính sở tại.
- Chết trên phương tiện giao thông hoặc ngoài biển: Người phụ trách tàu, xe phải báo cáo Công an tại bến hoặc ga đầu tiên để khám nghiệm, cho mai táng và tiến hành khai tử tại Ủy ban hành chính nơi có bến/ga đó. Nếu chết ngoài biển, thuyền trưởng phải báo Công an và khai tử tại Ủy ban hành chính nơi tàu cập bến đầu tiên.
- Tai nạn tập thể hoặc không tìm thấy xác: Đối với các tai nạn như sụt hầm, đắm tàu, thiên tai lũ lụt làm nhiều người chết (còn xác hoặc không tìm thấy xác), Ủy ban hành chính sở tại sẽ lập biên bản chứng nhận sự việc và tiến hành đăng ký khai tử.
- Thi hành án tử hình và người chết vô thừa nhận: Tòa án phải thông báo cho Ủy ban hành chính sở tại để đăng ký sau khi thi hành án tử hình. Đối với người chết vô thừa nhận, Công an sở tại lập biên bản, tổ chức mai táng và gửi biên bản sang Ủy ban hành chính để đăng ký.
- Trường hợp đặc biệt về trẻ em: Trẻ sơ sinh chết ngay sau khi đẻ chỉ cần báo Công an xin phép mai táng, không phải khai sinh hay khai tử. Trẻ đẻ ra chưa kịp khai sinh mà chết thì phải báo Công an xin phép mai táng, sau đó phải đồng thời làm thủ tục khai sinh và khai tử.
Sửa chữa, bổ sung và ghi chú thay đổi hộ tịch
- Sửa chữa sai sót: Đối với các sai sót, thiếu sót thông thường trong sổ hộ tịch, Ủy ban hành chính nơi đăng ký có quyền trực tiếp sửa chữa, bổ sung theo đơn xin của đương sự. Đối với các sai sót quan trọng, phải được sự cho phép của Ủy ban hành chính cấp trên trực tiếp.
- Ghi chú thay đổi hộ tịch: Khi có quyết định thay đổi về tình trạng hộ tịch (như ly hôn, thay đổi quốc tịch, thay đổi họ tên, nhận con đẻ, nhận cha mẹ đẻ, nhận con nuôi...), Ủy ban hành chính phải ghi chú ngay vào bản lưu hộ tịch. Nếu trước đó chưa đăng ký sinh hoặc kết hôn thì phải làm thủ tục đăng ký quá hạn trước khi thực hiện ghi chú.
- Trường hợp mất tích: Khi có quyết định của Ủy ban hành chính hoặc Tòa án tuyên bố một người mất tích, thân nhân nộp trích lục quyết định để đăng ký vào sổ khai tử.
Quy định đối với Việt kiều về nước và Ngoại kiều
- Đối với Việt kiều: Giấy tờ hộ tịch do cơ quan đại diện ngoại giao (Đại sứ, Lãnh sự) của Việt Nam tại nước ngoài cấp có giá trị pháp lý như giấy tờ cấp trong nước. Giấy tờ do chính quyền nước ngoài cấp phải được Ủy ban hành chính cấp tỉnh hoặc thành phố nơi cư trú xét duyệt và công nhận. Trường hợp không có giấy tờ thì tạm thời làm giấy khai danh dự.
- Đối với ngoại kiều: Ngoại kiều cư trú tại Việt Nam bắt buộc phải đăng ký các sự kiện sinh, tử theo quy định của Điều lệ này. Việc kết hôn của ngoại kiều được đăng ký nếu họ tự nguyện yêu cầu.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn áp dụng
Nghị định và Điều lệ này có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố. Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm thi hành và ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết. Đối với vùng dân tộc thiểu số, người miền Nam tập kết ra Bắc và quân nhân trong thời kỳ chiến tranh, Bộ Nội vụ phối hợp với các cơ quan liên quan (như Bộ Quốc phòng) để ban hành các quy định châm chước và áp dụng cụ thể sau.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 764-TTg | Hà Nội, ngày 08 tháng 5 năm 1956 |
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 764-TTG, NGÀY 8/5/1956 BAN HÀNH BẢN ĐIỀU LỆ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1: Nay ban hành bản Điều lệ đăng ký hộ tịch kèm theo nghị định này.
Điều 2: Bản điều lệ này bãi bỏ các thể lệ về đăng ký hộ tịch đã ban hành trước đây.
Điều 4: Ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| TM. CHÍNH PHỦ |
Giấy chứng nhận hộ tịch do chủ tịch Uỷ ban hành chính ký và đóng dấu Uỷ ban; chủ tịch có thể uỷ quyền cho phó chủ tịch hay một uỷ viên ký thay.
Nếu có sửa chữa điều gì thì phải chú thích ở dưới là xóa hay thêm mấy chữ và phải do uỷ viên phụ trách ký nhận.
Khi ghi chép xong phải đọc lại cho mọi người nghe nhận là đúng và ký tên. Nếu có người không ký được thì Uỷ ban phải ghi rõ.
Đăng ký xong, Uỷ ban phải cấp ngay cho người đứng khai một bản sao không lấy tiền.
Đến cuối năm sau khi khoá sổ, thì gửi một quyển lên Uỷ ban hành chính tỉnh hay thành phố, và lưu một quyển ở Uỷ ban hành chính cấp cơ sở.
Khi cấp bản sao cho nhân dân, Uỷ ban hành chính sẽ làm theo mẫu của bản điều lệ này.
Ai tự ý sửa chữa hoặc giả mạo giấy chứng nhận hộ tịch sẽ bị phạt theo luật pháp.
Điều 9: Khi có việc sinh, phải đến khai với Uỷ ban hành chính sở tại trong hạn ba mươi ngày.
Trường hợp người cha hay mẹ đứa trẻ đứng khai thì không có giấy chứng nhận nói trên cũng được, nhưng phải có một người làm chứng.
Trường hợp người vợ hay người chồng chưa đến mười tám tuổi, thì phải có bố hay mẹ hoặc người giám hộ cùng đến khai và ký vào sổ.
Người đứng khai là thân nhân người chết, có thể là láng giềng hoặc bạn bè quen thuộc.
Nếu thời hạn bảy ngày đã qua, thân nhân người chết không đến thì người phụ trách hoặc người chủ các nơi đó phải khai tử với Uỷ ban hành chính sở tại.
Trường hợp có người chết ngoài bể, thì khi tàu đến bến đầu tiên, viên thuyền trưởng phải báo Công an biết và phải khai tử với Uỷ ban hành chính nơi có bến ấy.
Điều 21: Khi thi hành xong một án tử hình, Toà án phải báo với Uỷ ban hành chính sở tại để đăng ký.
Mục V: SỬA CHỮA CÁC ĐIỀU ĐÃ ĐĂNG KÝ VÀ GHI CHÚ CÁC VIỆC THAY ĐỔI VỀ HỘ TỊCH
Nếu trước chưa đăng ký việc sinh hoặc việc kết hôn, thì người đương sự phải xin đăng ký quá hạn, rồi Uỷ ban mới được ghi chú và cấp bản sao. Các việc ghi chú phải do Uỷ ban hành chính ký nhận.
Mục VI: ĐỐI VỚI VIỆT KIỀU VỀ NƯỚC
Điều 30: Việt kiều nào không có giấy chứng nhân hộ tịch có thể tạm thời làm giấy khai danh dự.
Đối với việc kết hôn, nếu họ tự nguyện đến xin đăng ký thì Uỷ ban đăng ký theo điều lệ này.
Điều 32: Bộ Nội vụ sẽ quy định chi tiết việc thi hành bản điều lệ này.
- 1Quyết định 1203/1998/QĐ-BTP về biểu mẫu, sổ sách hộ tịch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 2Nghị định 32-CP năm 1968 về việc thống nhất công tác đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và thống kê dân số do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 3Thông tư 423-DC/DS năm 1959 về việc ghi chú các việc hộ tịch của Việt kiều hiện cư trú ở Pháp và Pháp kiều trước đây cư trú ở Việt nam vào sổ hộ tịch của ta do Bộ Nội Vụ ban hành
- 4Nghị định 484-NĐ/LB năm 1958 quy định thể lệ thay đổi họ, tên do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ- Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ban hành
- 5Nghị định 106-NV năm 1958 về bản điều lệ đăng ký hộ tịch đơn giản áp dụng ở các vùng dân tộc ít người do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 6Chỉ thị 2569-HTTK năm 1957 về đăng ký kết hôn và khai sinh quá hạn do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 7Chỉ thị 4343-HTTK năm 1957 về việc xét đơn xin thay đổi họ tên do Bộ Nội vụ ban hành
- 8Nghị định 4-CP năm 1961 Điều lệ đăng ký hộ tịch do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 9Nghị định 83/1998/NĐ-CP về việc đăng ký hộ tịch
- 10Luật Hộ tịch 2014
- 1Quyết định 1203/1998/QĐ-BTP về biểu mẫu, sổ sách hộ tịch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 2Nghị định 32-CP năm 1968 về việc thống nhất công tác đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và thống kê dân số do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 3Thông tư 06-NV-DC-TT năm 1956 thi hành Điều lệ đăng ký hộ tịch mới do Bộ Nội Vụ ban hành
- 4Thông tư 423-DC/DS năm 1959 về việc ghi chú các việc hộ tịch của Việt kiều hiện cư trú ở Pháp và Pháp kiều trước đây cư trú ở Việt nam vào sổ hộ tịch của ta do Bộ Nội Vụ ban hành
- 5Nghị định 484-NĐ/LB năm 1958 quy định thể lệ thay đổi họ, tên do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ- Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ban hành
- 6Nghị định 106-NV năm 1958 về bản điều lệ đăng ký hộ tịch đơn giản áp dụng ở các vùng dân tộc ít người do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 7Thông tư 1326-HCTP năm 1956 thi hành điều lệ đăng ký hộ tịch mới do Bộ Tư pháp ban hành
- 8Chỉ thị 2569-HTTK năm 1957 về đăng ký kết hôn và khai sinh quá hạn do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 9Chỉ thị 3484-HTTK năm 1957 về khai báo và xin đăng ký kết hôn cho quân nhân do Bộ Nội vụ ban hành
- 10Chỉ thị 4343-HTTK năm 1957 về việc xét đơn xin thay đổi họ tên do Bộ Nội vụ ban hành
- 11Nghị định 4-CP năm 1961 Điều lệ đăng ký hộ tịch do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 12Nghị định 83/1998/NĐ-CP về việc đăng ký hộ tịch
- 13Luật Hộ tịch 2014
Nghị định 764-TTg năm 1956 Điều lệ đăng ký hộ tịch
- Số hiệu: 764-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 08/05/1956
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phan Kế Toại
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 14
- Ngày hiệu lực: 02/06/1956
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
