Giới thiệu về Chỉ thị 4343-HTTK năm 1957
Chỉ thị 4343-HTTK do Bộ Nội vụ ban hành năm 1957 là một trong những văn bản pháp lý đặt nền móng cho công tác quản lý hộ tịch và dân cư trong giai đoạn đầu xây dựng chế độ mới tại miền Bắc. Văn bản này hướng dẫn chi tiết về việc tiếp nhận, thẩm định và giải quyết các đơn thư của công dân xin thay đổi họ và tên, nhằm bảo đảm quyền lợi cá nhân chính đáng đồng thời giữ vững trật tự quản lý hành chính của Nhà nước.
Thẩm quyền giải quyết việc thay đổi họ tên
- Cơ quan tiếp nhận và xác minh: Ủy ban hành chính và cơ quan công an cấp cơ sở (huyện, thị xã) có nhiệm vụ tiếp nhận đơn, tiến hành điều tra, xác minh lý lịch và nhân thân của người làm đơn.
- Cơ quan quyết định: Bộ Nội vụ giữ vai trò thẩm quyền tối cao trong việc phê duyệt các yêu cầu thay đổi họ tên, hoặc ủy quyền cho Ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xem xét quyết định đối với các trường hợp thông thường nhằm đơn giản hóa thủ tục.
Các điều kiện và lý do được chấp nhận thay đổi họ tên
- Lý do chính đáng và khách quan: Việc thay đổi họ tên chỉ được phê duyệt khi người nộp đơn chứng minh được lý do thực sự cần thiết, chẳng hạn như tên cũ có ý nghĩa xấu, dễ gây hiểu lầm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, đời sống sinh hoạt hoặc do yêu cầu công tác cách mạng, bảo mật thông tin trong thời kỳ kháng chiến.
- Yêu cầu về tư pháp và đạo đức: Người xin thay đổi họ tên phải có nhân thân rõ ràng, không thuộc đối tượng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không trong thời gian chấp hành án hoặc có biểu hiện lợi dụng việc đổi tên để trốn tránh nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ quân sự hoặc che giấu hành vi phạm pháp.
Quy trình và thủ tục xét duyệt đơn thư
- Bước 1: Nộp hồ sơ: Công dân làm đơn trình bày rõ lý do, cung cấp đầy đủ thông tin về họ tên cũ, họ tên mới mong muốn và các giấy tờ tùy thân liên quan gửi lên Ủy ban hành chính địa phương.
- Bước 2: Thẩm tra lý lịch: Cơ quan chức năng tiến hành xác minh tính trung thực của lý do xin đổi tên, kiểm tra hồ sơ tư pháp của người làm đơn tại nơi cư trú và nơi làm việc.
- Bước 3: Ra quyết định và cải chính hộ tịch: Sau khi nhận được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan quản lý hộ tịch địa phương thực hiện việc ghi chú thay đổi vào sổ hộ tịch và cấp lại giấy tờ nhân thân mới cho công dân.
Ý nghĩa thực tiễn của Chỉ thị 4343-HTTK
Chỉ thị này đã góp phần quan trọng vào việc thống nhất quản lý hộ tịch trên toàn quốc, hạn chế tình trạng thay đổi họ tên tùy tiện gây khó khăn cho công tác quản lý an ninh trật tự, đồng thời thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước đối với nguyện vọng chính đáng của người dân trong việc hoàn thiện danh tính cá nhân.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NỘI VỤ | VIỆT |
| Số: 4343-HTTK | Hà Nội, ngày 07 tháng 08 năm 1957 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC XÉT CÁC ĐƠN XIN THAY ĐỔI HỌ TÊN
BỘ NỘI VỤ
| Kính gửi | - Ủy ban Hành chính Liên khu 3, 4, Khu Tả ngạn, Khu Hồng quảng |
Về việc xin thay đổi họ tên, thông tư liên bộ số 9-NV/5TT ngày 19-3-1951 đã quy định những cấp nào có thẩm quyền giải quyết những thứ đơn này và đã nhấn mạnh rằng phải rất dè dặt trong khi giải quyết : chỉ những đơn có lý do thực xác đáng mấy được chấp nhận.
Trong thời kỳ kháng chiến, những đơn xin thay đổi họ tên rất ít, nhưng từ ngày hòa bình lập lại, số những đơn xin này tăng lên khá nhiều, hầu hết là do cán bộ và sinh viên xin. Những lý do trình bày trong các đơn này rất phức tạp và thường thường là không được chính đáng lắm, ví dụ như : trùng tên với người trong họ, với các tên phản động ; tên xấu xí, tên tuy không xấu nhưng anh em chúng bạn cũng cố xoay ra thành buồn cười để chế riễu; cũng có người muốn chọn lấy một tên kêu hơn, “xinh đẹp” hơn, v.v…
Ngoài việc muốn thay đổi họ tên cần phải có những lý do xác đáng, Bộ nhận thấy là đối với cán bộ, việc thay đổi họ tên không thể không gây trở ngại ít nhiều về mặt quản lý cán bộ, đối với người thường cũng có ảnh hưởng về mặt quản lý hộ khẩu, về mặt trị an ninh chung.
Vì vậy Bộ thấy cần phải chặt chẽ thận trọng trong việc cho phép thay đổi họ tên theo tinh thần đó, đặt ra một số tiêu chuẩn dưới đây để làm căn cứ giải quyết, và do đó sự giải quyết của Bộ cũng như của các địa phương sẽ được thống nhất hơn:
Tên trùng với tên của ông bà nội ngọai, của cha mẹ hai bên vợ chồng;
Tên thô tục, bẩn thỉu quá, đọc lên ngượng miệng, trái tai;
Bỏ họ tên của cha mẹ nuôi đặt cho và lấy lại họ tên của cha mẹ đẻ đặt từ lúc bé, khi thôi không làm con nuôi nữa;
Bỏ họ tên đã dùng trong khi công tác bí mật hồi kháng chiến, lấy lại họ tên cũ để tiện liên lạc với gia đình, bằng hữu; hoặc ngược lại, bỏ họ tên lúc còn nhỏ, lấy họ tên hoặc bí danh biệt hiệu đã dùng quen trong thời kháng chiến để kỉ niệm đời chiến đấu của mình và cũng để tiện trong việc giao dịch với cơ quan đơn vị mình có quan hệ công tác.
Ngoài bốn trường hợp đặc biệt nói trên, nếu còn có trường hợp nào khác cũng quan trọng tương đương như thế, mà các địa phương xét cần được chiếu cố thì cần hỏi ý kiến của Bộ trước khi quyết định cho phép.
Trường hợp trong đơn xin thay đổi họ tên có thêm xin sửa chữa tuổi nữa, thì đối với việc xin sửa chữa tuổi, cần hỏi ý kiến của Bộ trước đã vì đây là một vấn đề mới khá phức tạp, Bộ còn theo dõi trong một thời gian để nắm tình hình nghiên cứu kỹ và có chủ trương chung về sau.
Vấn đề xét đơn xin thay đổi họ tên của Hoa kiều sẽ giải quyết giống như đối với nhân dân Việt nam theo tinh thần của công văn số 3031/HTTK ngày 7-6-1957 của Bộ gửi cho thành phố Hải phòng. Đối với việc xin thay đổi họ tên của ngoại kiều khác, Bộ sẽ nghiên cứu thêm và có chỉ thị sau.
|
| T/L BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ |
- 1Thông tư 87-NV/DC năm 1958 ấn định thể thức và hướng dẫn thi hành Nghị định 484-NĐ/LB về việc xét các đơn xin thay đổi họ, tên do Bộ Nội Vụ ban hành
- 2Nghị định 484-NĐ/LB năm 1958 quy định thể lệ thay đổi họ, tên do Bộ trưởng Bộ Nội Vụ- Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ban hành
- 3Nghị định 764-TTg năm 1956 Điều lệ đăng ký hộ tịch
Chỉ thị 4343-HTTK năm 1957 về việc xét đơn xin thay đổi họ tên do Bộ Nội vụ ban hành
- Số hiệu: 4343-HTTK
- Loại văn bản: Chỉ thị
- Ngày ban hành: 07/08/1957
- Nơi ban hành: Bộ Nội vụ
- Người ký: Diệp Ba
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 45
- Ngày hiệu lực: 22/08/1957
- Ngày hết hiệu lực: 08/01/1959
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
