Điều 12 Nghị định 329/2026/NĐ-CP quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng
Điều 12. Huy động, phối hợp lực lượng bảo vệ an ninh mạng tham gia săn tìm, phát hiện và báo cáo điểm yếu, lỗ hổng bảo mật
1. Khuyến khích lực lượng bảo vệ an ninh mạng, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chủ quản hệ thống thông tin thiết lập cơ chế, chương trình, kế hoạch hoặc hoạt động săn tìm, phát hiện, xác minh, phân loại, báo cáo và điều phối xử lý điểm yếu, lỗ hổng bảo mật đối với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng số thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật.
2. Việc huy động, phối hợp lực lượng bảo vệ an ninh mạng, tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp tham gia săn tìm, phát hiện và báo cáo điểm yếu, lỗ hổng bảo mật chỉ được thực hiện trong phạm vi hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng số được cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chủ quản cho phép theo chương trình, kế hoạch, hợp đồng, thỏa thuận, đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc hình thức hợp pháp khác.
3. Việc công bố chương trình săn tìm, phát hiện và báo cáo điểm yếu, lỗ hổng bảo mật được thực hiện thông qua nền tảng quy định tại khoản 8 Điều 11 Nghị định này, thông qua dịch vụ an ninh mạng theo quy định của pháp luật hoặc thông qua hình thức công bố chính thức khác của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chủ quản hệ thống thông tin.
4. Tổ chức, cá nhân tham gia săn tìm, phát hiện và báo cáo điểm yếu, lỗ hổng bảo mật có trách nhiệm:
a) Thực hiện đúng phạm vi, thời hạn, phương thức và yêu cầu kỹ thuật được cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chủ quản hệ thống thông tin cho phép;
b) Không công bố, chia sẻ, mua bán, chuyển giao trái phép thông tin về điểm yếu, lỗ hổng bảo mật;
c) Không khai thác vượt quá mức cần thiết để chứng minh sự tồn tại của điểm yếu, lỗ hổng bảo mật;
d) Không làm gián đoạn, cản trở, phá hoại hoặc gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng số;
đ) Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
5. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm:
a) Xác định rõ phạm vi, điều kiện, phương thức, yêu cầu kỹ thuật và giới hạn được phép săn tìm, phát hiện điểm yếu, lỗ hổng bảo mật trong chương trình, kế hoạch, hợp đồng, thỏa thuận, đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ;
b) Tiếp nhận, xác minh, phân loại, xử lý hoặc phối hợp xử lý thông tin về điểm yếu, lỗ hổng bảo mật được báo cáo;
c) Áp dụng kịp thời biện pháp khắc phục đối với điểm yếu, lỗ hổng bảo mật đã được xác minh;
d) Bảo mật thông tin về tổ chức, cá nhân báo cáo điểm yếu, lỗ hổng bảo mật theo quy định của pháp luật;
đ) Báo cáo lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an trong trường hợp điểm yếu, lỗ hổng bảo mật có khả năng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, dữ liệu quan trọng hoặc dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật.
6. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khi phát hiện điểm yếu, lỗ hổng bảo mật của hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng số không thuộc phạm vi quản lý hoặc không thuộc phạm vi được cho phép săn tìm, phát hiện có trách nhiệm thông báo cho chủ quản hệ thống thông tin, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật; không được tự ý khai thác, công bố, chia sẻ, mua bán, chuyển giao thông tin về điểm yếu, lỗ hổng bảo mật.
7. Việc ghi nhận kết quả, chi trả thù lao, hỗ trợ chi phí hoặc tiền thưởng cho tổ chức, cá nhân phát hiện, báo cáo điểm yếu, lỗ hổng bảo mật được thực hiện trên cơ sở chương trình, kế hoạch, hợp đồng, thỏa thuận, đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc nguồn kinh phí hợp pháp khác; bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng nội dung chi, công khai, minh bạch và phù hợp với quy định của pháp luật.
8. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính và cơ quan có liên quan hướng dẫn điều kiện, quy trình, thủ tục huy động, phối hợp lực lượng bảo vệ an ninh mạng tham gia săn tìm, phát hiện và báo cáo điểm yếu, lỗ hổng bảo mật; việc tiếp nhận, xác minh, phân loại, lưu vết, bảo toàn dữ liệu, báo cáo, xử lý, khắc phục lỗ hổng bảo mật; việc ghi nhận kết quả, hỗ trợ chi phí, chi trả thù lao hoặc tiền thưởng theo quy định của pháp luật.
Nghị định 329/2026/NĐ-CP quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng
- Số hiệu: 329/2026/NĐ-CP
- Loại văn bản:
- Ngày ban hành: 19/08/2026
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký:
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/08/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
- Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
- Điều 2. Đối tượng áp dụng
- Điều 3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng
- Điều 4. Giải thích từ ngữ
- Điều 5. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng
- Điều 6. Lực lượng thường trực bảo vệ an ninh mạng
- Điều 7. Lực lượng dự bị bảo vệ an ninh mạng
- Điều 8. Tiêu chuẩn đối với cá nhân tham gia lực lượng bảo vệ an ninh mạng
- Điều 9. Phối hợp giữa các lực lượng bảo vệ an ninh mạng
- Điều 10. Trao đổi, cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ phối hợp bảo vệ an ninh mạng
- Điều 11. Huy động và khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng
- Điều 12. Huy động, phối hợp lực lượng bảo vệ an ninh mạng tham gia săn tìm, phát hiện và báo cáo điểm yếu, lỗ hổng bảo mật
- Điều 13. Nguyên tắc áp dụng chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng
- Điều 14. Tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện áp dụng chính sách đãi ngộ đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng
- Điều 15. Tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện áp dụng chính sách thu hút nhân tài vào lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng
- Điều 16. Chính sách tiền lương, tiền công, thù lao và hỗ trợ tăng thêm hằng tháng
- Điều 17. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và phát triển
