Tổng quan về Công văn 573/GSQL-TH năm 2011
Công văn số 573/GSQL-TH do Cục Giám sát quản lý về Hải quan thuộc Tổng cục Hải quan ban hành nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình kiểm tra, áp dụng và chấp nhận Chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu E (Form E) thuộc Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA). Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp cơ quan hải quan các địa phương thống nhất thực hiện, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn khi thông quan hàng hóa.
Các nội dung hướng dẫn trọng tâm về C/O mẫu E
- Quy định về người xuất khẩu tại Ô số 1 trên C/O mẫu E
- Tên người xuất khẩu được thể hiện tại Ô số 1 phải là người xuất khẩu thực tế tại nước thành viên xuất khẩu của Hiệp định ACFTA.
- Trường hợp người xuất khẩu ủy quyền cho một đại lý hoặc bên thứ ba đứng tên trên C/O mẫu E, việc ủy quyền này phải phù hợp với quy định pháp luật của nước xuất khẩu và các hướng dẫn thực thi của ACFTA.
- Tên của người xuất khẩu thực tế hoặc người được ủy quyền hợp pháp phải được thể hiện rõ ràng, nhất quán với các chứng từ kèm theo lô hàng như hóa đơn thương mại và vận đơn.
- Hướng dẫn đối với trường hợp hóa đơn thương mại do bên thứ ba phát hành (Third Party Invoicing)
- Hóa đơn bên thứ ba là trường hợp hóa đơn thương mại được phát hành bởi một công ty có trụ sở tại một nước thứ ba (có thể là thành viên hoặc không phải là thành viên ACFTA) hoặc bởi một nhà xuất khẩu trong nước thành viên đại diện cho công ty đó.
- Khi áp dụng hóa đơn bên thứ ba, C/O mẫu E phải đáp ứng các điều kiện kỹ thuật: Ô số 13 phải được tích chọn vào mục "Third Party Invoicing"; số và ngày của hóa đơn bên thứ ba phải được ghi rõ tại Ô số 10; tên và nước của công ty phát hành hóa đơn phải được ghi rõ tại Ô số 7.
- Cơ quan hải quan không từ chối C/O mẫu E chỉ vì lý do hóa đơn thương mại được phát hành bởi một bên thứ ba, miễn là các thông tin khai báo trên C/O hoàn toàn khớp và hợp lệ theo quy định.
- Xử lý các khác biệt nhỏ (Minor Discrepancies) trên C/O mẫu E
- Các sai sót nhỏ mang tính kỹ thuật như lỗi chính tả, lỗi đánh máy, hoặc sự khác biệt nhỏ về thông tin không làm ảnh hưởng đến tính xác thực của xuất xứ hàng hóa thì không bị coi là lý do để bác bỏ C/O mẫu E.
- Sự khác biệt nhỏ giữa thông tin khai báo trên C/O mẫu E và các chứng từ nộp cho cơ quan hải quan (như tờ khai hải quan, vận đơn, hóa đơn) về trọng lượng, số lượng, hoặc quy cách đóng gói sẽ được chấp nhận nếu trên thực tế hàng hóa nhập khẩu hoàn toàn phù hợp với mô tả trên C/O.
- Cơ quan hải quan cấp cơ sở cần linh hoạt xử lý, tạo điều kiện thông quan cho doanh nghiệp đối với các trường hợp khác biệt nhỏ không ảnh hưởng đến bản chất xuất xứ của hàng hóa.
- Quy trình kiểm tra và xác minh tính hợp lệ của C/O mẫu E
- Trong trường hợp có nghi ngờ hợp lý về tính chân thực và chính xác của thông tin trên C/O mẫu E (như nghi ngờ về chữ ký, con dấu, hoặc tiêu chí xuất xứ), cơ quan hải quan sẽ tiến hành thủ tục xác minh (verification procedure).
- Trong quá trình chờ kết quả xác minh từ cơ quan có thẩm quyền cấp C/O của nước xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu vẫn có thể được thông quan theo mức thuế suất thông thường (MFN) hoặc doanh nghiệp phải nộp bảo lãnh thuế theo quy định của pháp luật.
- Sau khi nhận được kết quả xác minh chính thức xác nhận C/O mẫu E là hợp lệ, cơ quan hải quan sẽ tiến hành hoàn thuế hoặc giải tỏa bảo lãnh cho doanh nghiệp theo đúng quy định của Hiệp định ACFTA.
Ý nghĩa và tác động của văn bản
Công văn 573/GSQL-TH đóng vai trò quan trọng trong việc tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các đối tác trong khu vực ACFTA, đặc biệt là Trung Quốc. Việc làm rõ các quy định về Ô số 1, hóa đơn bên thứ ba và cách xử lý sai sót nhỏ giúp giảm thiểu tranh chấp giữa cơ quan hải quan và doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy tiến trình thuận lợi hóa thương mại quốc tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 573/GSQL-TH | Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 2011 |
Kính gửi: Cục Hải quan Bình Dương.
Trả lời công văn số 2945/HQBD-GSQL ngày 18/11/2011 của Cục Hải quan Bình Dương báo cáo vướng mắc liên quan đến C/O mẫu E số tham chiếu E114401812292415 cấp ngày 08/10/2011, Cục Giám sát quản lý về Hải quan có ý kiến như sau:
Điểm 7 công văn số 2706/TCHQ-GSQL ngày 07/6/2011 của Tổng cục Hải quan quy định: "… Trường hợp hóa đơn do một công ty của Trung Quốc hoặc ASEAN cấp (công ty này không phải nhà xuất khẩu) cũng được hiểu là trường hợp hóa đơn bên thứ ba". "Nhà xuất khẩu" ở đây được hiểu là công ty đứng tên trên ô số 1 của C/O.
Như vậy, đây là trường hợp mua bán ba bên và hóa đơn do Công ty Abana phát hành là hóa đơn bên thứ ba. Theo đó, việc không tích vào mục "Third party invoicing" tại ô số 13 của C/O là không đúng quy định.
Cục Giám sát quản lý về Hải quan trả lời để đơn vị biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 2706/TCHQ-GSQL về hướng dẫn một số điểm của Thông tư 36/2010/TT-BCT và triển khai kết quả cuộc họp ACTNC lần thứ 37 do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2Công văn 866/GSQL-TH năm 2013 vướng mắc C/O mẫu E do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 3Công văn 902/GSQL-TH năm 2013 vướng mắc C/O mẫu E do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 4Công văn 904/GSQL-TH năm 2013 vướng mắc C/O mẫu E do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
Công văn 573/GSQL-TH năm 2011 vướng mắc C/O mẫu E do Tổng cục Hải quan ban hành
- Số hiệu: 573/GSQL-TH
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 13/12/2011
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Âu Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 13/12/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
