Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6663-24:2020 (ISO 5667-24:2016) về Chất lượng nước - Lấy mẫu - Phần 24: Hướng dẫn đánh giá chất lượng lấy mẫu nước cung cấp các nguyên tắc và hướng dẫn kỹ thuật quan trọng nhằm đánh giá, kiểm soát chất lượng của quá trình lấy mẫu nước, đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của dữ liệu quan trắc môi trường.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Tiêu chuẩn này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, các tổ chức chứng nhận, đánh giá độc lập bên ngoài, cũng như các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện hoạt động tự quan trắc và đánh giá nội bộ quy trình lấy mẫu nước. Hướng dẫn này giúp các bên liên quan xác định sự phù hợp của quy trình lấy mẫu với các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành và các cam kết pháp lý.
- Chương trình lấy mẫu và mục tiêu đánh giá chất lượng- Chương trình lấy mẫu (sampling programme) đóng vai trò là nền tảng thiết lập các bước thực hiện và kiểm soát chất lượng nước một cách hệ thống.
- Mục tiêu của cuộc đánh giá do cơ quan bên ngoài thực hiện tập trung vào việc xác định sự phù hợp với các yêu cầu tối thiểu được quy định trong hợp đồng hoặc các nghĩa vụ pháp định hiện hành.
- Mục tiêu của cuộc đánh giá nội bộ hướng tới việc nhận diện nhu cầu đào tạo nhân sự, chuẩn bị sẵn sàng trước các kỳ đánh giá độc lập hoặc đáp ứng các chỉ tiêu hoạt động chính (KPI) của ban quản lý.
- Cả đánh giá độc lập (bên ngoài) và đánh giá nội bộ đều chia sẻ mục đích chung tối cao là xác định xem quá trình lấy mẫu có gây ra bất kỳ tác động bất lợi nào đối với tính toàn vẹn của dữ liệu phân tích chất lượng nước hay không.
- Đánh giá viên cần tập trung vào các mục tiêu chất lượng nước của tổ chức và xác định các khu vực, vị trí có nguy cơ cao nhất xảy ra sự không phù hợp về chất lượng nước.
- Mục tiêu kiểm tra và kế hoạch đánh giá có thể được sửa đổi, điều chỉnh linh hoạt trong quá trình thực hiện nếu phát hiện các yếu tố rủi ro mới hoặc thay đổi thực tế tại hiện trường.
- Chương trình nghị sự của cuộc họp khai mạc là bước bắt buộc để thống nhất phương pháp, phạm vi và kế hoạch làm việc giữa đoàn đánh giá và đơn vị được đánh giá.
- Quy trình kiểm soát hình ảnh bao gồm hai phần chính: Phần 1 về việc chấp thuận hình ảnh (đảm bảo tính pháp lý và bảo mật) và Phần 2 về việc thiết lập tờ biểu ghi chép nhật ký ảnh nhằm lưu trữ bằng chứng khách quan trong quá trình thị sát.
- Phần 1 tập trung vào việc thu thập và xác minh thông tin về địa điểm của vị trí lấy mẫu trên bản đồ và hồ sơ kỹ thuật.
- Phần 2 thực hiện ghi chép chi tiết về địa điểm của điểm lấy mẫu được thị sát trực tiếp trong quá trình đánh giá thực địa, đảm bảo tính đại diện và tính chính xác của vị trí lấy mẫu.
- Nhiệt độ là yếu tố quyết định đến tính toàn vẹn của mẫu nước. Quy trình đánh giá nhiệt độ được chia làm ba phần rõ rệt:
- Phần 1: Thực hiện đánh giá nhiệt độ bằng phương pháp thủ công tại thời điểm lấy mẫu.
- Phần 2: Thực hiện đánh giá nhiệt độ tự động bằng bộ ghi dữ liệu (data logger) để theo dõi biến động nhiệt độ liên tục trong suốt quá trình vận chuyển.
- Phần 3: Thực hiện đánh giá nhiệt độ tại các điểm trung chuyển mẫu trước khi đưa về phòng thí nghiệm.
- Quy trình quan sát hiện trường bao gồm Phần 1 về chi tiết đánh giá và Phần 2 về biểu mẫu ghi chép quan sát thực tế của đánh giá viên.
- Báo cáo đánh giá phải làm rõ mục tiêu đánh giá ban đầu, các mục đích bảo đảm chất lượng đi kèm và ghi nhận bất kỳ sửa đổi nào so với kế hoạch đánh giá ban đầu.
- Báo cáo phải thể hiện rõ tỷ lệ phần trăm khối lượng công việc thực tế được quan sát trực tiếp trong suốt quá trình đánh giá để đảm bảo tính tin cậy của kết luận đánh giá.
Hiệu lực thi hành
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6663-24:2020 (ISO 5667-24:2016) có hiệu lực kể từ ngày được công bố theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực quan trắc và phân tích môi trường nước cần chủ động áp dụng tiêu chuẩn này để chuẩn hóa quy trình lấy mẫu và nâng cao độ tin cậy của kết quả quan trắc.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
TCVN 6663-24:2020
ISO 5667-24:2016
CHẤT LƯỢNG NƯỚC - LẤY MẪU - PHẦN 24: HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƯỢNG LẤY MẪU NƯỚC
Water quality - Sampling - Part 24: Guidance on the auditing of water quality sampling
Lời nói đầu
TCVN 6663-24:2020 hoàn toàn tương đương với ISO 577-24:2016
TCVN 6663-24:2020 do Tổng cục Môi trường biên soạn, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Lời giới thiệu
Việc lấy mẫu và phân tích các hoạt động cung cấp nước sạch là một trong những yếu tố chính trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Lấy mẫu môi trường nước mặt từ sông và các vùng nước mặt; lấy mẫu nước thải sau xử lý và mẫu nước thải chưa xử lý từ hoạt động sản xuất và dịch vụ; và lấy mẫu nước được dùng cho các mục đích ngoài sử dụng để ăn uống cũng có thể có tác động đáng kể đến sức khoẻ cộng đồng, vệ sinh lao động và độ bền của tài sản.
Một trong những nguồn sai số chính trong thu thập dữ liệu theo dõi chất lượng nước có thể là quá trình lẩy mẫu. Thực hành lấy mẫu kém tạo ra những vấn đề cho diễn giải kết quả và có thể dẫn đến các quyết định tốn kém và không chính xác. Không thể quản lý được các yếu tố như nồng độ Cryptosporidium trong nước uống, viêm phổi do Legionella và sự ăn mòn của hệ thống sưởi ấm là những ví dụ về thất bại của việc kiểm soát / đảm bảo chất lượng trong quá trình lấy mẫu có thể gây hậu quả nguy hiểm đến tính mạng.
Đánh giá lấy mẫu chất lượng nước xác định cả các thuộc tính tích cực và tiêu cực của chuỗi quản lý. Do đó, mục tiêu của đánh giá việc lấy mẫu là để nhấn mạnh hiệu quả của “thực hành tốt nhất” và xây dựng cơ sở tri thức để cho phép phổ biến nó trong tổ chức.
Không bao giờ mà sự đánh giá bao hàm hết được mọi khía cạnh của việc lấy mẫu chất lượng nước và nên áp dụng cách tiếp cận dựa trên nguy cơ để thiết kế chương trình đánh giá nhằm đảm bảo rằng các vấn đề có nguy cơ cao được đề cập thường xuyên hơn và ở mức độ sâu hơn so với các vấn đề nguy cơ thấp. Ví dụ, điều cơ bản là tất cả tài liệu quản lý cấp cao, bao gồm chính sách và chiến lược lấy mẫu, chính sách đào tạo và chính sách về sức khoẻ và an toàn, được kiểm tra trong lần đánh giá đầu tiên, cùng với việc thực hiện nó trên mặt đất (nghĩa là trên bờ của các thủy vực mà nước được lấy mẫu). Trường hợp các tài liệu thực hiện cũng được tạo ra ở cấp độ cao (hướng dẫn lấy mẫu, hướng dẫn đào tạo, v.v), chúng có thể được coi là tài liệu quản lý cấp cao cho mục đích thiết kế chương trình đánh giá. Miễn là không có vấn đề phát sinh, tài liệu này chỉ cần kiểm tra chi tiết về các đánh giá tiếp theo nếu có thay đổi đã được thực hiện trong thời gian chuyển tiếp. Tuy nhiên, vẫn cần phải kiểm tra xem bất kỳ vấn đề nào được xác định trong quá trình đánh giá ban đầu đã được giải quyết một cách thỏa đáng hay chưa; rằng bất kỳ thay đổi khác là thích hợp; và rằng các trường hợp lấy mẫu không thay đổi theo cách mà việc sửa đổi những tài liệu quản lý cấp cao này là cần thiết.
Các tổ chức lớn hơn có thể muốn đánh giá đầy đủ tài liệu quản lý cấp cao tại các giai đoạn quá độ đều đặn (ví dụ như 4 năm một lần) hoặc để đánh giá các phần khác nhau của tài liệu theo một chương trình dàn trải. Họ cũng có thể muốn xem xét một chương trình thường xuyên đánh giá sự phổ biến các thay đổi đối với các tài liệu quản lý cấp cao vì những quá trình này có thể mất thời gian để làm việc theo cách của họ xuống đến những người thực hành lấy mẫu/làm việc quản lý của họ, đặc biệt là khi có sự trải rộng về địa lý và lấy mẫu lớn không phải là chức năng chính. Điều này hiếm khi là một vấn đề trong các tổ chức nhỏ mà ở đó người có trách nhiệm soạn thảo các tài liệu quản lý cấp cao cũng thường là người có trách nhiệm quản lý việc lấy mẫu, nếu không thực hiện lấy mẫu.
Nguy cơ về sự không phù hợp tại các địa điểm lấy mẫu có thể khác nhau đáng kể, tần suất và mức độ của mỗi cuộc đánh giá cần phải phản ánh điều này. Một số tổ chức chỉ lấy mẫu trong các môi trường được kiểm soát chặt chẽ, nơi có các vòi lấy mẫu được xây lắp cho mục đích lấy mẫu. Ở đây nguy cơ không phù hợp là rất thấp, nhưng cùng lúc đó, mức độ tuân thủ rất cao có thể được kỳ vọng. Các tổ chức khác lấy mẫu trong môi trường khác biệt và thường không lý tưởng, làm cho cần thiết
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
- 1Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12260-4:2018 (ISO 13164-4:2015) về Chất lượng nước - Radon 222 - Phần 4: Phương pháp thử sử dụng đếm nhấp nháy lỏng hai pha
- 2Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6187-1:2019 (ISO 9308-1:2014) về Chất lượng nước - Phát hiện và đếm Escherichia coli và vi khuẩn Coliform - Phần 1: Phương pháp lọc màng áp dụng cho nước có số lượng vi khuẩn thấp
- 3Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6187-2:2020 (ISO 9308-2:2012) về Chất lượng nước - Phương pháp định lượng vi khuẩn Escherichia coli và coliform - Phần 2: Kỹ thuật đếm số có xác suất lớn nhất
- 4Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12960:2020 (ISO 12846:2012) về Chất lượng nước - Xác định thủy ngân - Phương pháp sử dụng phổ hấp thụ nguyên tử (ASS) có làm giàu và không làm giàu
- 5Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12962:2020 về Chất lượng xác định peclorat hòa tan - Phương pháp sử dụng sắc ký ion (IC)
- 6Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12963:2020 về Chất lượng nước - Xác định chọn lọc các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong nước - Phương pháp sử dụng sắc ký khí và khối phổ bằng kỹ thuật headspace tĩnh (HS-GC-MS)
- 7Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13247:2020 (ISO 20469:2018) về Hướng dẫn phân cấp chất lượng nước cho tái sử dụng nước
- 8Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12402-2:2021 (ISO 7027-2:2019) về Chất lượng nước - Xác định độ đục - Phần 2: Phương pháp bán định lượng để đánh giá độ trong của nước
- 1Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6663-14:2000 (ISO 5667-14 : 1998) về chất lượng nước - Lấy mẫu - Phần 14 - Hướng dẫn đảm bảo chất lượng lấy mẫu và xử lý mẫu nước môi trường do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 2Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-1:2006) về Chất lượng nước - Lấy mẫu - Phần 1: Hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu và Kỹ thuật lấy mẫu
- 3Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6663-3:2016 (ISO 5667-3:2012) về Chất lượng nước - Lấy mẫu - Phần 3: Bảo quản và xử lý mẫu nước
- 4Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2017 (ISO/IEC 17025:2017) về Yêu cầu chung về năng lực của phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn
- 5Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12260-4:2018 (ISO 13164-4:2015) về Chất lượng nước - Radon 222 - Phần 4: Phương pháp thử sử dụng đếm nhấp nháy lỏng hai pha
- 6Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6187-1:2019 (ISO 9308-1:2014) về Chất lượng nước - Phát hiện và đếm Escherichia coli và vi khuẩn Coliform - Phần 1: Phương pháp lọc màng áp dụng cho nước có số lượng vi khuẩn thấp
- 7Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6187-2:2020 (ISO 9308-2:2012) về Chất lượng nước - Phương pháp định lượng vi khuẩn Escherichia coli và coliform - Phần 2: Kỹ thuật đếm số có xác suất lớn nhất
- 8Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12960:2020 (ISO 12846:2012) về Chất lượng nước - Xác định thủy ngân - Phương pháp sử dụng phổ hấp thụ nguyên tử (ASS) có làm giàu và không làm giàu
- 9Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12962:2020 về Chất lượng xác định peclorat hòa tan - Phương pháp sử dụng sắc ký ion (IC)
- 10Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12963:2020 về Chất lượng nước - Xác định chọn lọc các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong nước - Phương pháp sử dụng sắc ký khí và khối phổ bằng kỹ thuật headspace tĩnh (HS-GC-MS)
- 11Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13247:2020 (ISO 20469:2018) về Hướng dẫn phân cấp chất lượng nước cho tái sử dụng nước
- 12Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12402-2:2021 (ISO 7027-2:2019) về Chất lượng nước - Xác định độ đục - Phần 2: Phương pháp bán định lượng để đánh giá độ trong của nước
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6663-24:2020 (ISO 5667-24:2016) về Chất lượng nước - Lấy mẫu - Phần 24: Hướng dẫn đánh giá chất lượng lấy mẫu nước
- Số hiệu: TCVN6663-24:2020
- Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
- Ngày ban hành: 01/01/2020
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 14/09/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
