Tiêu chuẩn này áp dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng nguồn nước bao gồm nước uống, nước sinh hoạt, nước mặt, nước ngầm và nước thải. Đối tượng áp dụng trực tiếp là các phòng thử nghiệm hóa lý nước, các cơ quan quan trắc môi trường, các nhà máy xử lý nước và các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến kiểm soát, giám sát chất lượng nước tại Việt Nam.
Phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn (Điều 1)Tiêu chuẩn quy định hai phương pháp định lượng riêng biệt để xác định độ đục của nước, tùy thuộc vào đặc tính và mức độ đục của mẫu nước cần phân tích:
- Phương pháp đo độ đục khuếch tán (Nephelometry): Phương pháp này đo cường độ của bức xạ khuếch tán bởi các hạt lơ lửng trong mẫu nước dưới một góc vuông (90 độ) so với hướng của chùm tia tới. Phương pháp này đặc biệt phù hợp và có độ nhạy cao đối với các mẫu nước có độ đục thấp, chẳng hạn như nước uống sau xử lý hoặc nước khoáng đóng chai.
- Phương pháp đo độ đục giảm truyền suốt (Turbidimetry): Phương pháp này đo sự suy giảm cường độ của chùm tia sáng truyền thẳng qua mẫu nước do sự hấp thụ và tán xạ của các hạt lơ lửng (đo ở góc 180 độ). Phương pháp này thích hợp để áp dụng cho các mẫu nước có độ đục cao, ví dụ như nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt hoặc nước sông hồ bị ô nhiễm nặng.
Để đảm bảo tính chính xác và thống nhất trong quá trình thực hiện thử nghiệm, tiêu chuẩn yêu cầu áp dụng bắt buộc tài liệu viện dẫn sau:
- TCVN 4851 (ISO 3696) về Nước dùng cho phòng thí nghiệm phân tích - Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử. Việc sử dụng nước cất hoặc nước khử khoáng đạt tiêu chuẩn chất lượng cao là điều kiện tiên quyết để pha chế các dung dịch chuẩn Formazin và mẫu trắng, tránh các sai số không đáng có do tạp chất trong nước pha chế gây ra.
Tiêu chuẩn đưa ra các định nghĩa khoa học và thống nhất các đơn vị đo lường để tránh sự nhầm lẫn trong việc báo cáo kết quả phân tích:
- Độ đục (Turbidity): Là đặc tính quang học biểu thị sự cản trở khả năng truyền ánh sáng qua mẫu nước, gây ra bởi sự hiện diện của các chất không hòa tan, chất lơ lửng, chất keo hoặc vi sinh vật.
- Đơn vị đo độ đục Formazin (FTU - Formazin Turbidity Unit): Đơn vị đo tiêu chuẩn dựa trên chất chuẩn polyme Formazin được tổng hợp từ hydrazin sulfat và hexamethylenetetramin. FTU được dùng làm đơn vị gốc để hiệu chuẩn tất cả các thiết bị đo độ đục.
- Đơn vị đo độ đục khuếch tán (NTU - Nephelometric Turbidity Unit): Đơn vị đo cụ thể khi sử dụng phương pháp đo độ đục khuếch tán ở góc 90 độ với nguồn sáng trắng hoặc nguồn sáng hồng ngoại.
- Đơn vị suy giảm Formazin (FAU - Formazin Attenuation Unit): Đơn vị đo áp dụng cho phương pháp đo độ đục giảm truyền suốt (đo ở góc 180 độ), thường dùng cho các dải đo độ đục lớn.
Trong quá trình phân tích định lượng độ đục, kết quả đo có thể bị sai lệch nghiêm trọng do các yếu tố cản trở vật lý và hóa học. Tiêu chuẩn đã chỉ rõ các tác nhân gây nhiễu và cách khắc phục cụ thể:
- Sự hiện diện của bọt khí: Các bọt khí nhỏ lơ lửng trong mẫu nước có thể tán xạ ánh sáng tương tự như các hạt rắn, dẫn đến kết quả đo độ đục cao hơn thực tế. Người phân tích cần loại bỏ bọt khí bằng cách để yên mẫu trong một khoảng thời gian ngắn hoặc sử dụng thiết bị khử khí bằng sóng siêu âm trước khi tiến hành đo.
- Màu sắc của nước: Sự có mặt của các chất hòa tan có màu (như chất hữu cơ hòa tan, axit humic) có thể hấp thụ ánh sáng ở bước sóng đo, làm giảm cường độ ánh sáng truyền qua hoặc khuếch tán, gây ra sai số âm (kết quả thấp hơn thực tế). Tiêu chuẩn khuyến nghị sử dụng nguồn sáng hồng ngoại (bước sóng khoảng 860 nm) để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng của màu sắc mẫu nước.
- Các hạt vật chất kích thước lớn hoặc chất nổi: Các hạt bụi bẩn lớn, chất xơ hoặc màng dầu mỡ nổi trên bề mặt có thể gây ra sự biến động lớn và không ổn định trong các chỉ số đo. Cần đồng nhất mẫu nhẹ nhàng bằng cách đảo ngược cuvet nhiều lần trước khi đo, nhưng phải tránh tạo ra bọt khí mới.
- Sự ngưng tụ hơi nước trên thành cuvet: Khi đo mẫu nước lạnh ở điều kiện nhiệt độ phòng có độ ẩm cao, hơi nước có thể ngưng tụ bên ngoài thành cuvet thủy tinh, làm tán xạ ánh sáng và gây sai số dương rất lớn. Người thử nghiệm phải lau khô hoàn toàn thành ngoài cuvet bằng khăn mềm không xơ trước khi đặt vào buồng đo của thiết bị.
- Vết xước hoặc bụi bẩn trên cuvet: Bất kỳ khuyết tật vật lý nào trên bề mặt thủy tinh của cuvet chứa mẫu đều có thể làm thay đổi đường truyền của ánh sáng. Do đó, cuvet phải được giữ sạch sẽ tuyệt đối, không có vết trầy xước, không bám dấu vân tay và phải được định hướng đồng nhất (theo vạch dấu trên cuvet) trong mỗi lần đo.
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12402-1:2020 có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố áp dụng. Tiêu chuẩn này đóng vai trò là căn cứ kỹ thuật pháp lý quan trọng để các phòng thí nghiệm chuẩn hóa quy trình đo độ đục, nâng cao độ tin cậy của các kết quả thử nghiệm chất lượng nước tại Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
ISO 7027-1:2016
CHẤT LƯỢNG NƯỚC - XÁC ĐỊNH ĐỘ ĐỤC - PHẦN 1: PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG
Water quality - Determination of turbidity - Part 1: Quantitative methods
Lời nói đầu
TCVN 12402-1:2020 hoàn toàn tương đương với ISO 7027-1:2016
TCVN 12402-1:2020 do Tổng cục Môi trường biên soạn, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Lời giới thiệu
Phép đo độ đục có thể bị ảnh hưởng bởi các chất hấp thụ ánh sáng hòa tan (các chất truyền màu). Những hiệu ứng như vậy có thể được giảm thiểu bằng cách tiến hành các phép đo ở bước sóng lớn hơn 800 nm. Chỉ màu đen cacbon và màu xanh lam có thể tìm thấy trong một số nước bị ô nhiễm, tác động nhẹ đến phép đo độ đục trong vùng phổ này. Bọt khí cũng gây cản trở đến phép đo, nhưng những cản trở này có thể được giảm thiểu bằng cách xử lý mẫu cẩn thận.
Để khảo sát về mức độ, các vấn đề đặc trưng sẽ yêu cầu những quy định về các điều kiện bổ sung.
ISO 7027 : 1999 đã chấp nhận thành TCVN 6184 :2008.
Hiện nay, ISO 7027 : 1999 đã bị hủy bỏ và hiện đã được thay thế bằng 02 tiêu chuẩn và ISO 7027- 1 :2016 và ISO/FDIS 7027-2
ISO 7027-1 :2016 đang được xây dựng thành TCVN 12402-1:2018 Chất lượng nước - Xác định độ đục - Phần 1: Phương pháp định lượng và ISO/FDIS 7027-2 sẽ được xây dựng thành tiêu chuẩn quốc gia trong thời gian sớm nhất
CHẤT LƯỢNG NƯỚC - XÁC ĐỊNH ĐỘ ĐỤC - PHẦN 1: PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG
Water quality - Determination of turbidity - Part 1: Quantitative methods
CẢNH BÁO - Người sử dụng tiêu chuẩn này cần phải thành thạo các phép thực hành cơ bản trong phòng thí nghiệm. Tiêu chuẩn này không đề cập tới mọi vấn đề an toàn liên quan đến người sử dụng. Trách nhiệm của người sử dụng là phải bảo đảm an toàn và có sức khỏe phù hợp với các quy định của quốc gia.
QUAN TRỌNG - Chỉ những nhân viên được đào tạo phù hợp mới được tiến hành phép thử theo tiêu chuẩn này.
Tiêu chuẩn này quy định hai phương pháp định lượng sử dụng máy đo độ đục quang học hoặc nephelometer (máy đo cỡ hạt) để xác định độ đục trong nước:
a) Đo cỡ hạt, quy trình đo bức xạ khuếch tán, áp dụng cho nước có độ đục thấp (ví dụ nước uống);
b) Đo độ đục, phương pháp đo sự suy giảm của thông lượng bức xạ, thích hợp hơn với nước có độ đục cao (ví dụ nước thải hoặc nước bị ô nhiễm).
Độ đục được đo theo phương pháp thứ nhất biểu thị theo đơn vị đục kế (NTU). Kết quả trong khoảng từ <0,05 NTU đến 400 NTU. Tùy thuộc vào thiết kế của thiết bị, cũng có thể áp dụng cho nước có độ đục cao hơn. Có sự tương đương về số của các đơn vị NTU và đơn vị đục kế fomazin (FNU)
Độ đục được đo bằng phương pháp thứ hai được biểu thị theo đơn vị suy giảm formazin (FAU), cho kết quả trong khoảng từ 40 FAU đến 4000 FAU.
Các tài liệu viện dẫn sau rất cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu có).
CIE Publication No. 17, International lighting vocabulary (Từ vựng quốc tế về ánh sáng).
Tiêu chuẩn này, các định nghĩa được đưa ra trong CIE xuất bản phẩm số 17 và sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau:
3.1
Độ
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
- 1Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6187-2:2020 (ISO 9308-2:2012) về Chất lượng nước - Phương pháp định lượng vi khuẩn Escherichia coli và coliform - Phần 2: Kỹ thuật đếm số có xác suất lớn nhất
- 2Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13086:2020 về Chất lượng nước - Xác định độ dẫn điện
- 3Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13094:2020 về Chất lượng nước - Xác định oxy hòa tan - Phương pháp điện cực màng
- 1Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6184:2008 (ISO 7027 : 1999) về Chất lượng nước - Xác định độ đục
- 2Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6910-1:2001 (ISO 5725-1 : 1994) về Độ chính xác (độ đúng và độ chụm) của phương pháp đo và kết quả đo - Phần 1: Nguyên tắc và định nghĩa chung do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 3Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6910-2:2001 (ISO 5725-2 : 1994) về Độ chính xác (độ đúng và độ chụm) của phương pháp đo và kết quả đo - Phần 2: Phương pháp cơ bản xác định độ lặp lại và độ tái lập của phương pháp đo tiêu chuẩn do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 4Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6187-2:2020 (ISO 9308-2:2012) về Chất lượng nước - Phương pháp định lượng vi khuẩn Escherichia coli và coliform - Phần 2: Kỹ thuật đếm số có xác suất lớn nhất
- 5Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13086:2020 về Chất lượng nước - Xác định độ dẫn điện
- 6Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13094:2020 về Chất lượng nước - Xác định oxy hòa tan - Phương pháp điện cực màng
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12402-1:2020 (ISO 7027-1:2016) về Chất lượng nước - Xác định độ đục - Phần 1: Phương pháp định lượng
- Số hiệu: TCVN12402-1:2020
- Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
- Ngày ban hành: 01/01/2020
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 05/08/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
