Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7543:2005
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7543:2005 hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 2747:1998. Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định độ bền sốc nhiệt của các dụng cụ tráng men dùng để đun nấu, giúp đánh giá chất lượng, độ bền và độ an toàn của sản phẩm men thủy tinh và men sứ trong quá trình sử dụng thực tế dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ đột ngột.
Điều 1: Phạm vi áp dụng
Điều khoản này xác định rõ giới hạn và đối tượng áp dụng của phương pháp thử nghiệm:
- Tiêu chuẩn này quy định phương pháp thử nghiệm cụ thể để xác định độ bền sốc nhiệt của các dụng cụ đun nấu bằng men thủy tinh và men sứ, bao gồm cả các đồ dùng rỗng tráng men được thiết kế để đun nấu hoặc chứa đựng, phục vụ thức ăn nóng.
- Phương pháp này được áp dụng rộng rãi cho tất cả các loại dụng cụ tráng men dùng để đun nấu trên các nguồn nhiệt thông thường trong gia đình hoặc các thiết bị gia nhiệt tương đương.
Điều 2: Tài liệu viện dẫn
Để áp dụng tiêu chuẩn này một cách chính xác và đồng bộ, tài liệu viện dẫn sau đây là cực kỳ cần thiết. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng bản được nêu, đối với tài liệu không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất:
- TCVN 4851:1989 (ISO 3696:1987) về Nước dùng cho phân tích trong phòng thí nghiệm - Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử. Đây là tiêu chuẩn bắt buộc để đảm bảo chất lượng nước sử dụng trong quá trình thử nghiệm sốc nhiệt không làm ảnh hưởng đến kết quả đo lường.
Điều 3: Nguyên lý của phương pháp thử
Nguyên lý xác định độ bền sốc nhiệt được thực hiện dựa trên quy trình kiểm tra thực nghiệm nghiêm ngặt:
- Dụng cụ tráng men dùng để thử nghiệm được đặt và gia nhiệt dần trên một bếp điện phẳng (bếp thử nghiệm) cho đến khi đạt tới một nhiệt độ xác định trước.
- Ngay sau khi đạt đến nhiệt độ yêu cầu, một lượng nước lạnh có thể tích và nhiệt độ xác định được rót nhanh vào lòng dụng cụ đang nóng để tạo ra sự thay đổi nhiệt độ đột ngột (sốc nhiệt).
- Quá trình gia nhiệt và làm lạnh đột ngột này được lặp lại liên tục với nhiệt độ tăng dần sau mỗi chu kỳ thử nghiệm (theo các bước tăng nhiệt độ quy định) cho đến khi xuất hiện sự hư hỏng của lớp men (như nứt, bong tróc men) hoặc cho đến khi đạt đến giới hạn nhiệt độ tối đa quy định mà không xảy ra hư hỏng.
Điều 4: Thiết bị và dụng cụ thử nghiệm
Để đảm bảo tính chính xác, khách quan và độ lặp lại của kết quả thử nghiệm, các thiết bị và dụng cụ sử dụng phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật sau:
- Bếp điện thử nghiệm: Phải có bề mặt phẳng, đường kính và công suất phù hợp để đảm bảo truyền nhiệt đồng đều lên toàn bộ đáy của dụng cụ thử nghiệm. Bếp cần được trang bị bộ phận điều chỉnh công suất hoặc bộ điều khiển nhiệt độ chính xác để kiểm soát tốc độ tăng nhiệt.
- Dụng cụ đo nhiệt độ (Nhiệt kế hoặc cặp nhiệt điện): Có khả năng đo chính xác nhiệt độ bề mặt đáy dụng cụ tráng men trong suốt quá trình gia nhiệt, đảm bảo sai số nằm trong phạm vi cho phép theo quy định kỹ thuật.
- Ống đong hoặc dụng cụ định lượng nước: Dùng để đo chính xác thể tích nước lạnh cần rót vào dụng cụ thử nghiệm ở mỗi chu kỳ sốc nhiệt, đảm bảo tính đồng nhất giữa các lần thử.
- Nguồn nước thử nghiệm: Nước sử dụng trong quá trình thử nghiệm phải tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật về độ sạch và nhiệt độ ban đầu theo quy định tại TCVN 4851 (ISO 3696) nhằm loại trừ các tác nhân hóa học có thể gây ảnh hưởng đến bề mặt men.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
MEN THỦY TINH VÀ MEN SỨ - DỤNG CỤ TRÁNG MEN DÙNG ĐỂ ĐUN NẤU - XÁC ĐỊNH ĐỘ BỀN SỐC NHIỆT
Vitreous and porcelain enamels - Enamelled cooking utensils - Dertermination of resistance to thermal shock
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định tác động của sự thay đổi nhiệt độ đột ngột lên khả năng bền vững của các dụng cụ tráng men thủy tinh, men sứ và các dụng cụ tương tự (độ bền sốc nhiệt), bằng phép thử sốc nhiệt liên tiếp.
Trong tiêu chuẩn này, áp dụng các định nghĩa sau đây:
2.1. Phép thử sốc nhiệt (thermal shock test):
Một loạt các thao tác mà bắt đầu là đổ nước lạnh vào mẫu thử đã được đốt nóng và kết thúc là khi các phép thử tiếp theo đạt được nhiệt độ sốc nhiệt.
2.2. Nhiệt độ sốc nhiệt (thermal shock temperature):
Nhiệt độ của mẫu thử được đốt nóng trước khi được làm lạnh bằng nước lạnh.
2.3. Độ bền sốc nhiệt (thermal shock resistance):
Sự chênh lệch giữa nhiệt độ sốc nhiệt cao nhất mà tại đó mẫu thử chưa xuất hiện sự phá hỏng đầu tiên khi làm lạnh hoặc trong khi đốt nóng và nhiệt độ của nước.
2.4. Sự phá hỏng (damage):
Mảnh vỡ hoặc vết nứt ở men nhìn thấy được bằng mắt ở khoảng cách 250 mm hoặc bằng cách dùng chất lỏng có màu cho thấm vào.
Một dãy các phép thử sốc nhiệt riêng rẽ được điều khiển mức tăng nhiệt độ là 20 oC giữa mỗi lần sốc nhiệt bằng cách đốt nóng mẫu thử từ bên ngoài và sau đó làm lạnh ở bên trong bằng nước có nhiệt độ 20 oC.
Đối với phép thử ban đầu, nhiệt độ sốc nhiệt sẽ lên đến 200 oC. Phép thử kết thúc khi sự phá hỏng đầu tiên trên mẫu xuất hiện.
4.1. Bếp điện, có khả năng kiểm soát liên tục được nhiệt độ, có đường kính và công suất tối đa như cho trong bảng 1.
Bảng 1 - Bếp điện sử dụng để đốt nóng mẫu thử
Đường kính trong của mẫu thử | Bếp điện | |
Đường kính | Công suất tối đa | |
mm | mm | W |
Đến 180 | 145 | 1 000 ± 100 |
Trên 180 và đến 220 | 180 | 1 500 ± 150 |
Trên 220 | 220 | 2 000 ± 200 |
Để thử mẫu thử có đế không phẳng, bếp điện được phủ lên trên một vòng chứa đầy hạt bằng đồng có kích thước hạt từ 0,100 mm đến 0,125 mm.
4.2. Thiết bị đo nhiệt độ, hiển thị nhanh, chính xác đến 2 oC.
4.3. Nhiệt kế, để đo nhiệt độ của nước.
4.4. Da sơn dương, khăn giấy hoặc giấy mỏng dùng cho phòng thí nghiệm.
4.5. Dụng cụ chứa nước.
4.6. Đồng hồ bấm giây.
5.1. Các dụng cụ dùng để thử được coi là mẫu thử nhưng không được sửa đổi.
5.2. Mẫu thử phải đại diện được cho toàn bộ lô hàng. Kế hoạch lấy mẫu phải được thỏa thuận giữa các bên liên quan
5.3. Phải thử ít nhất là ba mẫu.
6.1. Yêu cầu chung
CHÚ THÍCH - Phụ lục A giới thiệu nguyên nhân cơ bản sự lựa chọn các điều kiện thử được quy định trong tiêu chuẩn này.
Đối với mỗi phép thử sốc nhiệt, mẫu thử được đổ đầy nước có nhiệt độ 20 oC ± 1 oC, đến độ cao 30 mm, nếu có thể được. Nếu không thể đổ nước vào mẫu thử đến độ cao 30 mm, thì trong bản báo cáo thử nghiệm phải ghi độ cao thực tế đổ nước được. Phải bảo đảm có nhiều nước có nhiệt độ 20 o
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
- 1Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7542-2:2005 (ISO 4531-2 : 1998) về Men thuỷ tinh và men sứ - Sự thôi ra của chì và cadimi từ các dụng cụ tráng men khi tiếp xúc với thực phẩm - Phần 2: Giới hạn cho phép do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 2Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 12-4:2015/BYT về vệ sinh an toàn đối với bao bì, dụng cụ làm bằng thủy tinh, gốm, sứ và tráng men tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm do Bộ Y tế ban hành
- 1Quyết định 163/2006/QĐ-BKHCN ban hành tiêu chuẩn Việt Nam về Men thủy tinh và men sứ do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 2Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7542-2:2005 (ISO 4531-2 : 1998) về Men thuỷ tinh và men sứ - Sự thôi ra của chì và cadimi từ các dụng cụ tráng men khi tiếp xúc với thực phẩm - Phần 2: Giới hạn cho phép do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 3Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 12-4:2015/BYT về vệ sinh an toàn đối với bao bì, dụng cụ làm bằng thủy tinh, gốm, sứ và tráng men tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm do Bộ Y tế ban hành
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7543:2005 ((ISO 2747 : 1998) về Men thủy tinh và men sứ - Dụng cụ tráng men dùng để đun nấu - Xác định độ bền sốc nhiệt do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- Số hiệu: TCVN7543:2005
- Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
- Ngày ban hành: 09/02/2006
- Nơi ban hành: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo:
- Ngày hiệu lực: 12/09/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
