Giới thiệu về Công văn 17428/BTC-TCHQ
Công văn số 17428/BTC-TCHQ là văn bản chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ do Bộ Tài chính ban hành, tập trung vào việc giải quyết và xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật về thuế. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất cách hiểu và thực thi các quy định pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho cả cơ quan quản lý hải quan và cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Nội dung chi tiết Phần mở đầu và các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Phần khởi đầu của văn bản đặt nền móng pháp lý và định hình phạm vi xử lý các vướng mắc về thuế với các nội dung cốt lõi sau:
- Phần mở đầu - Bối cảnh và mục tiêu ban hành: Bộ Tài chính nêu rõ lý do ban hành công văn xuất phát từ những phản ánh, kiến nghị của các doanh nghiệp và cục hải quan địa phương về những điểm chưa thống nhất, chồng chéo trong việc áp dụng các quy định pháp luật thuế hiện hành. Mục tiêu là tháo gỡ khó khăn, đảm bảo tính minh bạch và nhất quán trong quản lý thuế.
- Điều 1 - Phạm vi điều chỉnh: Xác định rõ giới hạn các nội dung vướng mắc được xử lý trong văn bản, chủ yếu xoay quanh các sắc thuế liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, thủ tục hải quan và các biện pháp cưỡng chế, quản lý nợ thuế.
- Điều 2 - Đối tượng áp dụng: Quy định cụ thể các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự tác động và có trách nhiệm thi hành công văn này, bao gồm Tổng cục Hải quan, các Cục Hải quan tỉnh, thành phố, chi cục hải quan trực thuộc và các doanh nghiệp, người nộp thuế có liên quan.
- Điều 3 - Nguyên tắc áp dụng pháp luật thuế: Khẳng định nguyên tắc tối thượng là tuân thủ Hiến pháp, Luật Quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao hơn. Trong trường hợp có sự khác biệt giữa các quy định, văn bản hướng dẫn này sẽ chỉ rõ cách thức áp dụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế nhưng vẫn đảm bảo không làm thất thu ngân sách nhà nước.
- Điều 4 - Thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết vướng mắc: Phân định rõ ràng trách nhiệm của từng cấp hải quan trong việc tiếp nhận, phân loại và xử lý các kiến nghị của doanh nghiệp. Quy định thời hạn giải quyết cụ thể nhằm tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc kéo dài thời gian xử lý gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ý nghĩa và tác động thực tiễn
Việc quy định chi tiết ngay từ những điều khoản đầu tiên giúp các bên liên quan nhanh chóng nắm bắt được thẩm quyền và quy trình xử lý vướng mắc. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ hải quan, giảm thiểu sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật tại các địa phương, đồng thời củng cố niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 17428/BTC-TCHQ | Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2011 |
Kính gửi: Các Cục Hải quan tỉnh, thành phố.
Trong quá trình tổ chức thực hiện Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật này có phát sinh một số vướng mắc liên quan đến nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Để việc thực hiện được thống nhất đúng quy định, Bộ Tài chính đã có văn bản trao đổi với Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán nhà nước, Bộ Tư pháp. Căn cứ quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 03/06/2008, Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, Luật thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/06/2005 và tham khảo ý kiến tham gia của Thanh tra Chính phủ tại công văn số 375/TTCP-V.II ngày 4/3/2011; Kiểm toán nhà nước tại công văn số 364/KTNN-TH ngày 15/4/2011; Bộ Tư pháp tại công văn số 5180/BTP-VĐCXDPL ngày 01/09/2011, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện như sau:
1. Vướng mắc trong áp dụng Luật quản lý thuế đối với hành vi vi phạm thuộc tờ khai hải quan đăng ký trước thời điểm Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành (ngày 01/07/2007):
Căn cứ quy định tại Điều 119 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11; khoản 1, khoản 4 Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12, thì văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.
Theo quy định trên, thì các tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đăng ký với cơ quan hải quan trước ngày 1/7/2007 có hành vi vi phạm về quản lý thuế nhưng tại thời điểm xử phạt, Luật quản lý thuế đã có hiệu lực và không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn thì áp dụng Luật quản lý thuế.
2. Vướng mắc trong trường hợp áp dụng nội dung Thông tư hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn Luật, Nghị định:
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 8 và khoản 1 Điều 78 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12, thì “Văn bản quy định chi tiết phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết” và “Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy định pháp luật được quy định trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành”.
Theo đó, đối với các trường hợp Thông tư hướng dẫn những nội dung mà Luật và Nghị định đã quy định cụ thể thì phải thi hành ngay từ thời điểm Luật, Nghị định có hiệu lực; nhưng những nội dung Luật, Nghị định chưa quy định hoặc quy định không rõ, phải hướng dẫn cụ thể tại Thông tư mới có cơ sở để thực hiện thì những nội dung được hướng dẫn cụ thể này được thực hiện theo thời điểm Thông tư có hiệu lực.
3. Vướng mắc về xác định thời hiệu xử phạt hành vi chậm nộp tiền thuế:
3.1. Theo quy định của khoản 2 Điều 110 Luật quản lý thuế, thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp tiền thuế là 05 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.
Do đó nếu tính từ thời điểm người nộp thuế bắt đầu chậm nộp thuế đến ngày người nộp thuế thực hiện nộp thuế mà đã quá thời hạn 5 năm thì việc xử phạt chậm nộp thuế được thực hiện như sau:
+ Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bắt đầu chậm nộp đến ngày kết thúc chậm nộp, thì người nộp thuế phải nộp tiền phạt chậm nộp.
+ Ngoài thời hạn 05 năm kể từ ngày bắt đầu chậm nộp, người nộp thuế không phải nộp phạt chậm nộp.
VD: Người nộp thuế đăng ký tờ khai hải quan vào ngày 2/10/2007 nhập khẩu vải để may quần áo. Giả sử theo quy định, thời hạn nộp thuế của Tờ khai này là 30 ngày nhưng đến ngày 15/5/2013 người nộp thuế mới nộp hết tiền thuế vào ngân sách thì trong khoảng thời gian từ ngày 3/11/2007 đến hết ngày 3/11/2012 (tròn 05 năm tính từ ngày bắt đầu chậm nộp trở đi), người nộp thuế vẫn bị phạt chậm nộp. Khoảng thời gian từ ngày 4/11/2012 (ngày quá thời hạn 05 năm) đến ngày 15/5/2013 (ngày nộp thuế) người nộp thuế không bị phạt chậm nộp.
3.2. Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, thì: Người có thẩm quyền xử phạt nếu có lỗi trong việc để quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh này.
Do đó, đề nghị cục Hải quan các tỉnh, thành phố xác định rõ nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm quá thời hiệu chưa xử lý và xác định trách nhiệm của các bên liên quan để xử lý tiền phạt chậm nộp theo đúng quy định tại điểm 3.1 và 3.2 nêu trên.
4. Vướng mắc trong xử lý truy thu thuế, ấn định thuế đối với hành vi nhầm lẫn:
Đề nghị các đơn vị trên cơ sở thực tế cụ thể của từng trường hợp, xác định rõ nguyên nhân, lý do cơ quan hải quan phải xác định lại các căn cứ, yếu tố tính thuế, số tiền thuế phải nộp khác với khai báo của người khai để có hướng xử lý phù hợp với quy định của pháp luật về thuế, quản lý thuế theo nguyên tắc áp dụng văn bản tạo Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nếu thật sự do khách quan, không có lỗi của doanh nghiệp thì tùy từng trường hợp cụ thể, căn cứ quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh sự việc để báo cáo Bộ Tài chính xử lý từng trường hợp cụ thể theo đúng quy định của pháp luật. Ví dụ: do tên tiếng Anh và tiếng Việt của danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khác nhau dẫn đến phân loại, tính thuế chưa đúng thì báo cáo Bộ Tài chính xử lý từng trường hợp cụ thể theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 49/2010/TT-BTC ngày 14/04/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Bộ Tài chính có ý kiến để các Cục Hải quan tỉnh, thành phố được biết và thống nhất thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Công văn 389/TCHQ-TXNK xử lý vướng mắc do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2Công văn 949/TCHQ-TXNK xử lý vướng mắc do Tổng cục Hải quan ban hành
- 3Công văn 519/BTC-TCHQ năm 2014 xử lý vướng mắc áp dụng thuế tự vệ do Bộ Tài chính ban hành
- 4Công văn 246/TCT-TTR năm 2015 xem xét, giải quyết vướng mắc liên quan đến việc áp dụng chính sách pháp luật thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005
- 2Luật quản lý thuế 2006
- 3Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
- 4Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
- 5Thông tư 49/2010/TT-BTC hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 6Công văn 389/TCHQ-TXNK xử lý vướng mắc do Tổng cục Hải quan ban hành
- 7Công văn 949/TCHQ-TXNK xử lý vướng mắc do Tổng cục Hải quan ban hành
- 8Công văn 519/BTC-TCHQ năm 2014 xử lý vướng mắc áp dụng thuế tự vệ do Bộ Tài chính ban hành
- 9Công văn 246/TCT-TTR năm 2015 xem xét, giải quyết vướng mắc liên quan đến việc áp dụng chính sách pháp luật thuế do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 17428/BTC-TCHQ xử lý vướng mắc áp dụng pháp luật thuế do Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 17428/BTC-TCHQ
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 22/12/2011
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Đỗ Hoàng Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/12/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
