Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2683:1991 là văn bản kỹ thuật cốt lõi quy định chi tiết về phương pháp lấy, bao gói, vận chuyển và bảo quản mẫu đất dùng trong khảo sát địa chất công trình phục vụ xây dựng. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trong tiêu chuẩn này nhằm bảo đảm tính trung thực, chính xác của các chỉ tiêu cơ lý khi tiến hành thí nghiệm trong phòng.
Điều 1: Phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn
Tiêu chuẩn này áp dụng đối với tất cả các loại đất (ngoại trừ đất đóng băng vĩnh cửu) được khảo sát nhằm mục đích thiết kế và xây dựng các công trình. Quy chuẩn này bắt buộc áp dụng cho các hoạt động kỹ thuật bao gồm:
- Lấy mẫu đất từ các công trình thăm dò ngoài thực địa như hố khoan, giếng khơi, hố đào, hào và sườn dốc.
- Bao gói và niêm phong mẫu đất nhằm ngăn ngừa sự mất nước tự nhiên và biến dạng cấu trúc.
- Vận chuyển mẫu từ hiện trường khảo sát về phòng thí nghiệm hợp chuẩn.
- Bảo quản mẫu đất trong thời gian lưu kho chờ thí nghiệm.
Điều 2: Quy định chung và phân loại mẫu đất
Tiêu chuẩn phân chia mẫu đất thành hai loại chính dựa trên mức độ giữ nguyên cấu trúc tự nhiên của đất:
- Mẫu đất nguyên dạng (mẫu không bị phá hủy cấu trúc): Là mẫu đất phải giữ nguyên được cấu trúc hạt, độ ẩm tự nhiên và các đặc tính vật lý vốn có của tầng đất. Mẫu này bắt buộc phải sử dụng để xác định các chỉ tiêu cơ lý quan trọng như sức chống cắt, tính nén lún, khối lượng thể tích tự nhiên và hệ số thấm.
- Mẫu đất phá hủy cấu trúc (mẫu không nguyên dạng): Là mẫu đất không cần giữ nguyên cấu trúc hạt ban đầu nhưng phải đảm bảo giữ nguyên thành phần khoáng vật, thành phần hạt và độ ẩm tự nhiên của đất. Mẫu này thường dùng để xác định thành phần hạt, giới hạn dẻo, giới hạn chảy và tỷ trọng của đất.
- Yêu cầu về kích thước mẫu: Tiêu chuẩn quy định kích thước tối thiểu của mẫu đất phải phù hợp với loại đất (đất dính, đất rời, đất sỏi sạn) và loại thí nghiệm dự kiến tiến hành nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất cho tầng đất được khảo sát.
Điều 3: Phương pháp lấy mẫu đất tại hiện trường
Quy trình lấy mẫu đất phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu kỹ thuật để tránh làm thay đổi trạng thái tự nhiên của đất:
- Lấy mẫu từ hố khoan: Phải sử dụng các thiết bị lấy mẫu chuyên dụng như ống mẫu thành mỏng, ống mẫu piston hoặc ống mẫu nòng đôi. Tốc độ và lực ấn ống mẫu phải đều, tuyệt đối không được đóng mạnh làm xáo trộn cấu trúc đối với mẫu nguyên dạng.
- Lấy mẫu từ hố đào, giếng, hào: Tiến hành gọt đẽo thủ công để lấy các mẫu dạng khối (mẫu hộp). Phương pháp này giúp hạn chế tối đa sự tác động cơ học lên cấu trúc đất so với việc lấy mẫu bằng máy.
- Yêu cầu kỹ thuật khi thao tác: Phải xác định và ghi chép chính xác độ sâu lấy mẫu vào nhật ký khảo sát địa chất. Thiết bị lấy mẫu phải được làm sạch hoàn toàn trước khi thực hiện lượt lấy mẫu tiếp theo để tránh lẫn tạp chất giữa các tầng đất khác nhau.
Điều 4: Phương pháp bao gói và ghi nhãn mẫu đất
Công tác bao gói và ghi nhãn quyết định khả năng bảo toàn chất lượng mẫu trước khi đưa vào phòng thí nghiệm:
- Đối với mẫu nguyên dạng: Ngay sau khi lấy ra khỏi thiết bị, mẫu phải được bọc bằng màng chống thấm (như nilon, giấy sáp) và phủ kín toàn bộ bề mặt bằng paraffin nóng chảy để ngăn chặn sự bay hơi nước. Mẫu phải được đặt trong các hộp cứng hoặc ống bảo vệ chuyên dụng để tránh va đập cơ học trong quá trình di chuyển.
- Đối với mẫu phá hủy cấu trúc: Có thể đựng trong túi nilon dày, hộp nhựa hoặc thùng gỗ, đảm bảo không làm thất thoát các hạt mịn và không lẫn tạp chất từ bên ngoài.
- Yêu cầu về nhãn mác (nhãn mẫu): Mỗi mẫu đất phải có ít nhất hai nhãn ghi đầy đủ thông tin (một nhãn dán bên ngoài hộp/túi, một nhãn đặt bên trong nhưng được bọc nilon bảo vệ). Nội dung nhãn phải thể hiện rõ: Tên công trình, số hiệu hố khoan/hố đào, số hiệu mẫu, độ sâu lấy mẫu, ngày lấy mẫu và họ tên người thực hiện lấy mẫu.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
ĐẤT XÂY DỰNG – PHƯƠNG PHÁP LẤY, BAO GÓI, VẬN CHUYỂN VÀ BẢO QUẢN MẪU
Soils - Sampling, packing, transportation and curing of samples
Tiêu chuẩn này thay thế TCVN 2683: 1978
Tiêu chuẩn này quy định những yêu cầu về phương pháp lấy, bao gói, vận chuyển và bảo quản các mẫu đất đá để xác định thành phần, các tính chất vật lí và cơ học khi dùng làm nền và môi trường phân bố công trình xây dựng.
1.1. Mẫu đất đá được lấy thành hai loại: mẫu nguyên trạng (giữ nguyên kết cấu) và mẫu không nguyên trạng (kết cấu bị phá hoại).
1.2. Mẫu đất đá được coi là nguyên trạng, nếu khi lấy xong vẫn giữ được nguyên kết cấu, thành phần, trạng thái và các tính chất như trong thiên nhiên (quy ước bỏ qua ảnh hưởng của sự thay đổi trạng thái ứng suất khi tách mẫu ra khỏi môi trường). Mẫu không giữ nguyên được kết cấu, thành phần, trạng thái và tính chất là mẫu không nguyên trạng.
Trong khảo sát xây dựng thường chỉ lấy mẫu nguyên trạng và mẫu có kết cấu không nguyên vẹn nhưng giữ được thành phần hạt hoặc độ ẩm. Ngoài ra, còn lấy mẫu lưu để mô tả và lưu hồ sơ.
1.3. Mẫu đất đá được lấy từ các công trình thăm dò đã làm sạch (hố đào, hồ móng, hào, vết lộ, lỗ khoan v.v...) hoặc đáy bồn nước.
1.4. Các công trình khoan đào phải được bảo vệ không cho nước mặt và nước mưa thấm vào.
1.5. Số lượng và kích thước mẫu đất đá phải đủ để tiến hành toàn bộ các thí nghiệm trong phòng theo quy định của phương án khảo sát.
2.1. Lấy mẫu nguyên trạng.
2.1.1. Mẫu nguyên trạng được lấy từ hố khai đào và từ lỗ khoan. Để lấy mẫu, dùng dao, xẻng, ống có đế vát phía ngoài (ống vát), cung dây v.v... hoặc ống mẫu nguyên trạng.
2.1.2. Mẫu giữ nguyên trạng mà không cần đóng hộp thì lấy thành dạng khối lập phương hoặc khối chữ nhật (thường có kích thước 25 x 25 x 25 cm).
2.1.3. Mẫu phải đóng hộp mới giữ được nguyên trạng thì lấy bằng ống vát, đảm bảo theo yêu cầu của điều 2- 1.5. Chiều cao ống vát không được nhỏ hơn đường kính ống.
2.1.4. Cho phép lấy mẫu nguyên trạng của đất loại sét cứng và nửa cứng, cũng như đất hòn lớn, bằng cách chụp và ấn đầu hộp chứa mẫu vào khối đất.
2.1.5. Khi khoan, ống mẫu nguyên trạng phải đảm bảo lấy được mẫu có độ ẩm tự nhiên với đường kính (cạnh) tương ứng với thiết bị thí nghiệm. Khi chọn kích thước ống mẫu, cần xét đến phạm vi phá hủy xung quanh mẫu nguyên trạng. Bề rộng của phạm vi này được lấy bằng 3mm đối với đá bền vũng, 5mm đối với đất loại sét có trạng thái từ dẻo chảy đến chảy, 10mm đối với đất loại cát và đất loại sét có trạng thái từ dẻo mềm đền cứng, 20mm đối với đất hòn lớn.
Đường kính tối thiểu của mẫu nguyên trạng nêu như sau: đối với đá - 50mm, đất loại cát và loại sét - 90mm, đất hòn lớn - 200mm. Chiều cao mẫu không nhỏ hơn đường kính và nên lớn hơn 200mm.
2.1.6. Khi lấy mẫu từ lỗ khoan bằng ống mẫu nguyên trạng, chiều dài của ống không vượt quá 2,0 đối với đá, l,5m đối với đất hòn lớn và 0,7m đói với đất loại sét và đất loại cát
2.1.7. Mẫu nguyên trạng của đá bền vững không bị phá hủy do tác động cơ học của dụng cụ khoan và của dung dịch rửa thì được lấy bằng phương pháp khoan xoáy, với ống mẫu đơn. Cho phép sử dụng nước là hoặc dung dịch sét làm nước rửa, rửa.
Mẫu nguyên trạng của các loại dát khác phải lấy bằng ống mẫu kép, có ống trong không quay mà chỉ tịnh tiến, với điều kiện chỉ dùng dung dịch sét làm nước rửa và đảm bảo chế độ khoan như sau:
- Tải trọng dọc trục: 600 – 1000kG.
- Tốc độ quay nhỏ hơn l00 vòng/phút.
2.1.8. Mẫu có thành phần, trạng thái và tính chất đặc biệt (thường yếu về mặt chịu lực) phải được lấy trong quá trình khoan không dùng nước rửa, không đổ nước vào lỗ khoan và phải dùng biện pháp cách li với những lớp đất chứa nước hoặc không ổn định.
2.1.9. Mẫu nguyên trạng của đất cát chặt và chặt vừa, đất loại sét có trạng thái cứng và nửa cứng phải lấy bằ
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
- 1Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4197:1995 về đất xây dựng - phương pháp xác định giới hạn dẻo và giới hạn chảy trong phòng thí nghiệm
- 2Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4200:1995 về đất xây dựng - phương pháp xác định tính nén lún trong phòng thí nghiệm
- 3Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4202:1995 về đất xây dựng - các phương pháp xác định khối lượng thể tích trong phòng thí nghiệm
- 4Tiêu chuẩn Việt Nam TCXDVN 5747:1993 về đất xây dựng - Phân loại
- 5Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4195:2012 về Đất xây dựng - Phương pháp xác định - Khối lượng riêng trong phòng thí nghiệm
- 6Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4200:2012 về Đất xây dựng - Phương pháp xác định tính nén lún trong phòng thí nghiệm
- 1Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4197:1995 về đất xây dựng - phương pháp xác định giới hạn dẻo và giới hạn chảy trong phòng thí nghiệm
- 2Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4200:1995 về đất xây dựng - phương pháp xác định tính nén lún trong phòng thí nghiệm
- 3Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4202:1995 về đất xây dựng - các phương pháp xác định khối lượng thể tích trong phòng thí nghiệm
- 4Tiêu chuẩn Việt Nam TCXDVN 5747:1993 về đất xây dựng - Phân loại
- 5Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 2683:2012 về Đất xây dựng - Lấy mẫu, bao gói, vận chuyển và bảo quản mẫu
- 6Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4195:2012 về Đất xây dựng - Phương pháp xác định - Khối lượng riêng trong phòng thí nghiệm
- 7Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4200:2012 về Đất xây dựng - Phương pháp xác định tính nén lún trong phòng thí nghiệm
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2683:1991 về đất xây dựng - phương pháp lấy, bao gói, vận chuyển và bảo quản mẫu
- Số hiệu: TCVN2683:1991
- Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
- Ngày ban hành: 01/01/1991
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 11/08/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
