Mục 2 Chương 3 Nghị định 152/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự
Mục 2. BẢO ĐẢM TÀI CHÍNH ĐỂ THI HÀNH ÁN
Điều 88. Đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án
1. Đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án theo quy định tại Điều 51 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:
a) Cơ quan nhà nước;
b) Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan, đơn vị thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp;
c) Đơn vị sự nghiệp do nhà nước thành lập, được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động;
d) Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang được nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động.
2. Đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này khi hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, chuyển đổi, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại thì thực hiện như sau:
a) Trường hợp hợp nhất, sáp nhập thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Nếu tổ chức mới thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này thì ngân sách nhà nước bảo đảm tài chính để thực hiện nghĩa vụ thi hành án;
b) Trường hợp chia, tách thì cơ quan ra quyết định chia, tách phải xác định rõ tổ chức tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo quyết định chia, tách. Trường hợp quyết định chia, tách không quy định nghĩa vụ của các tổ chức mới thì sau khi chia, tách thì các tổ chức mới có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị chia, tách. Nếu các tổ chức mới thuộc đối tượng được quy định tại khoản 1 Điều này thì ngân sách nhà nước bảo đảm tài chính để thực hiện nghĩa vụ thi hành án;
c) Trường hợp giải thể, chuyển đổi, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại thì cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định giải thể, chuyển đổi, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại có trách nhiệm xác định rõ tổ chức tiếp nhận nghĩa vụ thi hành án. Trường hợp quyền, nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị giải thể, chuyển đổi, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại được chuyển giao cho tổ chức khác thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Nếu tổ chức mới thuộc đối tượng được quy định tại khoản 1 Điều này thì ngân sách nhà nước bảo đảm tài chính để thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Điều 89. Điều kiện được bảo đảm tài chính để thi hành án
Cơ quan, tổ chức phải thi hành án thuộc diện được bảo đảm tài chính để thi hành án theo quy định tại Điều 51 của Luật Thi hành án dân sự chỉ được ngân sách nhà nước bảo đảm tài chính để thi hành án sau khi đã sử dụng khoản kinh phí tiết kiệm được từ nguồn kinh phí tự chủ được cấp theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có khả năng thi hành án.
Khoản kinh phí tiết kiệm nêu trên được xác định kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đến thời điểm có quyết định thi hành án và chỉ được sử dụng để bảo đảm cho các nghĩa vụ phải thi hành án.
Điều 90. Phạm vi bảo đảm tài chính để thi hành án
1. Ngân sách nhà nước bảo đảm tài chính để thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với nghĩa vụ thanh toán bằng tiền được xác định trong bản án, quyết định, bao gồm nghĩa vụ bằng tiền mặt, nghĩa vụ bằng tài sản nếu bản án, quyết định đã quy ra thành tiền;
b) Đối với nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định là nghĩa vụ giao tài sản nhưng tài sản phải giao bị giảm giá trị hoặc tài sản phải giao không còn sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Trường hợp nghĩa vụ thi hành án của cơ quan, tổ chức phát sinh do người thi hành công vụ gây ra và đã được giải quyết theo trình tự, thủ tục bồi thường nhà nước thì việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước.
Điều 91. Xác định nghĩa vụ phải thi hành án
Nghĩa vụ phải thi hành án là căn cứ tính mức bảo đảm tài chính để thi hành án và được xác định như sau:
1. Khoản tiền, nghĩa vụ giao tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 90 Nghị định này.
Nghĩa vụ phải thi hành án trong trường hợp tài sản bị giảm sút giá trị hoặc giá trị của tài sản trong trường hợp tài sản phải giao không còn, thì giá trị giảm sút hoặc giá trị của tài sản phải giao được xác định như sau:
a) Giá trị trong văn bản thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá do cơ quan thi hành án dân sự ký hợp đồng thẩm định giá nếu các bên đương sự không thỏa thuận được việc thanh toán bằng tiền đối với tài sản là vật cùng loại hoặc thỏa thuận thanh toán bằng tiền cao hơn giá trị trong văn bản thẩm định giá;
b) Giá trị thỏa thuận của các bên đương sự trong trường hợp giá trị thỏa thuận thấp hơn giá trị xác định trong văn bản thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá do cơ quan thi hành án dân sự ký hợp đồng thẩm định giá.
2. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án với nhiều người được thi hành án trong một bản án, quyết định hoặc phải thực hiện nhiều nghĩa vụ thi hành án trong nhiều bản án, quyết định khác nhau thì nghĩa vụ phải thi hành án là tổng các nghĩa vụ thi hành án mà cơ quan, tổ chức phải thi hành án phải thực hiện.
Điều 92. Mức và nguồn kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án
1. Kinh phí bảo đảm thi hành án đối với cơ quan, tổ chức phải thi hành án là đơn vị thuộc trung ương quản lý do ngân sách trung ương bảo đảm; kinh phí bảo đảm để thi hành án đối với cơ quan, tổ chức phải thi hành án là đơn vị thuộc địa phương quản lý do ngân sách địa phương bảo đảm theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành; kinh phí bảo đảm thi hành án đối với các đơn vị trong lực lượng vũ trang do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án không được sử dụng vào mục đích khác.
2. Mức bảo đảm tài chính được xác định như sau:
a) Mức bảo đảm tài chính để thi hành án là phần còn lại của nghĩa vụ thi hành án sau khi cơ quan, tổ chức phải thi hành án đã áp dụng biện pháp tài chính quy định tại Điều 89 Nghị định này để thanh toán nghĩa vụ thi hành án;
b) Trường hợp cơ quan, tổ chức phải thi hành án không có khả năng áp dụng biện pháp tài chính quy định tại Điều 89 Nghị định này để thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì mức bảo đảm tài chính để thi hành án là toàn bộ nghĩa vụ phải thi hành án.
Điều 93. Thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm sử dụng khoản kinh phí tiết kiệm quy định tại Điều 89 Nghị định này để thanh toán nghĩa vụ thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi đã sử dụng khoản kinh phí tiết kiệm để thanh toán nghĩa vụ thi hành án nhưng không thực hiện được hoặc chỉ thực hiện được một phần nghĩa vụ thi hành án, cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm lập hồ sơ bảo đảm tài chính để thi hành án.
2. Hồ sơ bảo đảm tài chính để thi hành án bao gồm:
a) Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật;
b) Quyết định thi hành án;
c) Báo cáo về tình hình thực hiện nghĩa vụ thi hành án của cơ quan, tổ chức phải thi hành án đã sử dụng khoản kinh phí tiết kiệm;
d) Biên bản thỏa thuận thanh toán bằng tiền đối với nghĩa vụ giao tài sản của các bên đương sự. Biên bản phải được lập thành văn bản, có chữ ký, đóng dấu (nếu có) của các bên đương sự và có xác nhận của Chấp hành viên phụ trách việc thi hành án.
Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm ký hợp đồng thẩm định giá với doanh nghiệp thẩm định giá chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày các bên đương sự không thỏa thuận được việc thanh toán bằng tiền hoặc kể từ ngày các bên đương sự thỏa thuận được thanh toán bằng tiền nghĩa vụ giao tài sản theo bản án, quyết định. Chi phí thẩm định giá do cơ quan, tổ chức phải thi hành án chi trả từ nguồn dự toán chi thường xuyên được giao để thực hiện.
3. Hàng năm, căn cứ vào tình hình thực hiện năm trước, nhu cầu kinh phí và dự kiến nhiệm vụ phát sinh năm sau, cơ quan, tổ chức phải thi hành án lập dự toán kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án, gửi cấp có thẩm quyền để bố trí kinh phí thực hiện. Khi phát sinh các vụ việc thuộc đối tượng được bảo đảm tài chính để thi hành án, sau khi thực hiện các biện pháp bảo đảm tài chính để thi hành án theo quy định mà không thực hiện được hoặc chỉ thực hiện được một phần nghĩa vụ thi hành án thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án sử dụng từ nguồn kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án trong dự toán ngân sách nhà nước được giao để thực hiện. Trường hợp trong năm, cơ quan, tổ chức phải thi hành án chưa được bố trí kinh phí đảm bảo tài chính để thi hành án hoặc số kinh phí đảm bảo tài chính đã bố trí thấp hơn số kinh phí phát sinh trong năm thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm lập dự toán bổ sung ngay sau khi hoàn thành lập hồ sơ đảm bảo tài chính để thi hành án.
Cơ quan, tổ chức phải thi hành án chịu trách nhiệm về hồ sơ, thủ tục và kinh phí bảo đảm thi hành án.
Điều 94. Thanh toán tiền thi hành án trong trường hợp bảo đảm tài chính để thi hành án
Thủ tục thanh toán tiền thi hành án trong trường hợp bảo đảm tài chính để thi hành án thực hiện như sau:
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc lập hồ sơ bảo đảm tài chính hoặc được cấp bổ sung kinh phí đảm bảo tài chính để thi hành án, cơ quan, tổ chức phải thi hành án sử dụng kinh phí quy định tại khoản 3 Điều 93 Nghị định này để tiến hành các thủ tục thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án thông qua cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển số tiền bảo đảm tài chính vào tài khoản tiền gửi của cơ quan thi hành án dân sự để thanh toán cho người được thi hành án.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thực hiện xong việc thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án, cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm lập báo cáo bằng văn bản về tình hình thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án, gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp.
Điều 95. Thành lập Hội đồng xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại
1. Trường hợp chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định người có lỗi thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án, người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm ban hành quyết định thành lập Hội đồng xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại.
2. Thành phần Hội đồng bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thi hành án. Trường hợp có căn cứ xác định người có lỗi gây ra thiệt hại là người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thi hành án thì Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức phải thi hành án;
b) Người phụ trách trực tiếp của người có lỗi gây ra thiệt hại;
c) Kế toán trưởng hoặc người phụ trách công tác tài chính - kế toán của cơ quan, tổ chức phải thi hành án;
d) Trong trường hợp cần thiết có thể thuê chuyên gia thuộc các lĩnh vực có liên quan. Kinh phí thuê chuyên gia do Hội đồng chi trả từ nguồn dự toán chi thường xuyên được giao để thực hiện.
Trường hợp có căn cứ xác định có nhiều người có lỗi thuộc các cơ quan khác nhau cùng gây ra thiệt hại thì đại diện lãnh đạo các cơ quan này phải tham gia Hội đồng.
Người tham gia Hội đồng không được là vợ, chồng; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi của vợ hoặc của chồng; con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột của vợ hoặc của chồng; cháu nội, cháu ngoại của người có lỗi gây ra thiệt hại.
3. Hội đồng có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Xem xét, xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại;
b) Xác định điều kiện kinh tế của người có lỗi gây ra thiệt hại;
c) Kiến nghị với thủ trưởng cơ quan, tổ chức phải thi hành án về mức hoàn trả và phương thức hoàn trả.
4. Phương thức làm việc của Hội đồng:
a) Hội đồng chỉ làm việc khi có tối thiểu 2/3 tổng số thành viên Hội đồng có mặt;
b) Hội đồng làm việc theo nguyên tắc thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Trong quá trình thảo luận và quyết định, các thành viên Hội đồng phải khách quan, dân chủ và tuân theo các quy định của pháp luật;
c) Việc kiến nghị về mức hoàn trả và phương thức hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu kín và theo nguyên tắc đa số trên tổng số thành viên Hội đồng có mặt.
Trường hợp số phiếu biểu quyết ngang nhau thì mức hoàn trả và phương thức hoàn trả sẽ do Chủ tịch Hội đồng quyết định;
d) Kết quả cuộc họp của Hội đồng phải được thể hiện bằng văn bản có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng.
5. Mức hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại được xác định theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về xác định mức hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại.
Điều 96. Thủ tục hoàn trả các khoản bảo đảm tài chính để thi hành án vào ngân sách nhà nước
1. Thủ tục hoàn trả các khoản bảo đảm tài chính để thi hành án vào ngân sách nhà nước thực hiện như sau:
a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị về mức hoàn trả của Hội đồng xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm ra quyết định về mức hoàn trả, thời hạn hoàn trả trên cơ sở đề nghị của Hội đồng xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại, thu hồi số tiền hoàn trả của người gây thiệt hại để nộp ngân sách nhà nước.
Số tiền được thu hồi từ người có lỗi gây ra thiệt hại phải được nộp vào ngân sách trung ương đối với cơ quan, tổ chức phải thi hành án là đơn vị thuộc trung ương quản lý do ngân sách trung ương bảo đảm tài chính để thi hành án hoặc nộp vào ngân sách địa phương đối với cơ quan, tổ chức phải thi hành án là đơn vị thuộc địa phương quản lý do ngân sách địa phương bảo đảm tài chính để thi hành án.
Việc quyết toán, thu, nộp ngân sách số tiền thu hồi được thực hiện theo chế độ quản lý tài chính hiện hành;
b) Trong trường hợp người có lỗi gây ra thiệt hại đồng thời là người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thi hành án thì người đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức phải thi hành án ra quyết định về mức hoàn trả, thời hạn hoàn trả vào ngân sách nhà nước;
c) Quyết định hoàn trả phải ghi rõ mức hoàn trả, thời hạn hoàn trả. Quyết định hoàn trả phải được gửi cho người có lỗi gây ra thiệt hại và những người có liên quan để thực hiện. Trong trường hợp có đơn yêu cầu được miễn, giảm mức hoàn trả, người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm xem xét, quyết định theo thẩm quyền. Quyết định về việc miễn, giảm mức hoàn trả phải nêu rõ căn cứ pháp lý và lý do giải quyết;
d) Trường hợp người phải hoàn trả không thống nhất với mức hoàn trả hoặc từ chối hoàn trả thì có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hoàn trả theo quy định của pháp luật về khiếu nại và pháp luật về tố tụng hành chính.
2. Việc hoàn trả có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần.
Trường hợp việc hoàn trả được thực hiện một lần thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định hoàn trả có hiệu lực pháp luật, người có trách nhiệm hoàn trả phải trả đủ số tiền đã được xác định trong quyết định hoàn trả.
Trường hợp thực hiện hoàn trả nhiều lần thì người có trách nhiệm hoàn trả số tiền theo mức và thời hạn đã được xác định trong quyết định hoàn trả.
Trong trường hợp việc hoàn trả được thực hiện bằng cách trừ dần vào lương hằng tháng của người có lỗi gây ra thiệt hại thì mức tối thiểu không dưới 10% và tối đa không quá 30% thu nhập từ tiền lương hằng tháng.
3. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với việc hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể như sau:
a) Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã thôi việc, nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đến cơ quan, tổ chức khác thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức đang quản lý thu nhập của người đó thu hồi số tiền hoàn trả theo quyết định hoàn trả đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan, tổ chức phải thi hành án đã ban hành;
b) Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã chết sau khi có quyết định hoàn trả và người có trách nhiệm hoàn trả có tài sản thừa kế và người thừa kế, thì những người thừa kế di sản của người đó phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật thừa kế; trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả chết mà không có tài sản thừa kế thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm xác minh, lập thành văn bản và có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú khi còn sống về việc người đó không còn di sản. Ngay sau khi hoàn thành việc xác minh, cơ quan, tổ chức phải thi hành án phải ra quyết định miễn thực hiện trách nhiệm hoàn trả. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định miễn thực hiện trách nhiệm hoàn trả, cơ quan, tổ chức phải thi hành án phải báo cáo bằng văn bản và gửi kèm theo quyết định miễn thực hiện trách nhiệm hoàn trả tới cơ quan cấp trên trực tiếp và cơ quan tài chính có thẩm quyền.
Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã chết trước khi có quyết định hoàn trả thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án không xem xét trách nhiệm hoàn trả đối với người đó;
c) Trường hợp cơ quan, tổ chức phải thi hành án đã tiến hành các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật mà vẫn không thu hồi được số tiền hoàn trả thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án có quyền khởi kiện yêu cầu người gây ra thiệt hại thực hiện nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự tại Tòa án.
Nghị định 152/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự
- Số hiệu: 152/2026/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 13/05/2026
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Lê Tiến Châu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/07/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
- Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
- Điều 2. Đại diện trong thi hành án dân sự
- Điều 3. Tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng trong thi hành án dân sự
- Điều 4. Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự
- Điều 5. Môi trường số trong thi hành án dân sự
- Điều 6. Nền tảng số thi hành án dân sự
- Điều 7. Giao, nhận bản án, quyết định
- Điều 8. Chủ động ra quyết định thi hành án
- Điều 9. Yêu cầu thi hành án
- Điều 10. Thời hiệu yêu cầu thi hành án
- Điều 11. Ra quyết định thi hành án theo yêu cầu
- Điều 12. Quyết định thi hành án, hồ sơ thi hành án
- Điều 13. Thay đổi Chấp hành viên
- Điều 14. Thỏa thuận thi hành án
- Điều 15. Thông báo thi hành án trên môi trường số
- Điều 16. Thông báo thi hành án qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo
- Điều 17. Niêm yết công khai
- Điều 18. Thông báo thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng
- Điều 19. Thông báo trong trường hợp xác định được địa chỉ của người được thông báo ở nước ngoài
- Điều 20. Gửi, nhận văn bản về thi hành án
- Điều 21. Xác minh điều kiện thi hành án
- Điều 22. Xử lý việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành
- Điều 23. Công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành
- Điều 24. Bảo quản, khai thác, sử dụng tài sản thi hành án
- Điều 25. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án
- Điều 26. Ủy thác thi hành án
- Điều 27. Ủy thác xử lý tài sản
- Điều 28. Thi hành nghĩa vụ liên đới
- Điều 29. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án
- Điều 30. Thủ tục thanh toán tiền thi hành án
- Điều 31. Bù trừ nghĩa vụ thi hành án
- Điều 32. Kết thúc thi hành án và xác nhận kết quả thi hành án
- Điều 33. Thủ tục thông báo thi hành án đối với người đang chấp hành hình phạt tù
- Điều 34. Thủ tục thu tiền, tài sản, giấy tờ đối với người đang chấp hành hình phạt tù
- Điều 35. Thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ đối với người đang chấp hành hình phạt tù
- Điều 36. Trách nhiệm thông tin về tình trạng của đương sự đang chấp hành hình phạt tù
- Điều 37. Giao, nhận, xuất vật chứng, tài sản tạm giữ
- Điều 38. Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ
- Điều 39. Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước
- Điều 40. Tiêu hủy vật chứng, tài sản
- Điều 41. Trả lại tiền, tài sản cho đương sự
- Điều 42. Áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án
- Điều 43. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ
- Điều 44. Tạm giữ tài sản, giấy tờ
- Điều 45. Tạm hoãn xuất cảnh
- Điều 46. Xây dựng kế hoạch cưỡng chế
- Điều 47. Phối hợp thực hiện cưỡng chế
- Điều 48. Phối hợp giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình bảo vệ cưỡng chế
- Điều 49. Khấu trừ tiền trong tài khoản
- Điều 50. Thu tiền của người phải thi hành án
- Điều 51. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
- Điều 52. Cưỡng chế khai thác tài sản
- Điều 53. Cưỡng chế mở khóa, mở gói
- Điều 54. Kê biên tài sản để thi hành án
- Điều 55. Kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp
- Điều 56. Kê biên quyền sử dụng đất
- Điều 57. Phong tỏa, kê biên, xử lý chứng khoán, cổ phần, phần vốn góp, giấy tờ có giá
- Điều 58. Kê biên, xử lý tài sản hình thành trong tương lai
- Điều 59. Kê biên, xử lý tài sản là quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên
- Điều 60. Thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên
- Điều 61. Thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản là vàng, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác
- Điều 62. Việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án
- Điều 63. Bán tài sản cho chủ sở hữu chung hoặc người được quyền ưu tiên mua
- Điều 64. Bán tài sản không qua thủ tục đấu giá
- Điều 65. Bán đấu giá tài sản thi hành án
- Điều 66. Nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án
- Điều 67. Giao tài sản để thi hành án
- Điều 68. Kê biên, xử lý hoặc cưỡng chế chuyển giao tài sản là quyền sử dụng đất mà trên đất có mồ mả hoặc không có lối đi
- Điều 69. Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản
- Điều 70. Cưỡng chế giao, trả giấy tờ
- Điều 71. Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
- Điều 72. Cưỡng chế chuyển quyền sở hữu chứng khoán, quyền sở hữu trí tuệ
- Điều 73. Trả lại tài sản sau khi chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và giải tỏa kê biên tài sản
- Điều 74. Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự
- Điều 75. Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự
- Điều 76. Giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự
- Điều 77. Cử người đại diện khi có nhiều người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung
- Điều 78. Nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động thi hành án dân sự
- Điều 79. Nội dung chi từ nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ chi theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự
- Điều 80. Chi phí thi hành án do ngân sách nhà nước chi trả
- Điều 81. Chi phí thi hành án do người phải thi hành án chịu
- Điều 82. Chi phí thi hành án do người được thi hành án chịu
- Điều 83. Chi phí thi hành án do người thứ ba chịu
- Điều 84. Mức chi phí thi hành án dân sự
- Điều 85. Nộp chi phí thi hành án
- Điều 86. Tạm ứng chi phí cưỡng chế
- Điều 87. Miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án
- Điều 88. Đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án
- Điều 89. Điều kiện được bảo đảm tài chính để thi hành án
- Điều 90. Phạm vi bảo đảm tài chính để thi hành án
- Điều 91. Xác định nghĩa vụ phải thi hành án
- Điều 92. Mức và nguồn kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án
- Điều 93. Thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án
- Điều 94. Thanh toán tiền thi hành án trong trường hợp bảo đảm tài chính để thi hành án
- Điều 95. Thành lập Hội đồng xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại
- Điều 96. Thủ tục hoàn trả các khoản bảo đảm tài chính để thi hành án vào ngân sách nhà nước
- Điều 97. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp
- Điều 98. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng
- Điều 99. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an
- Điều 100. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Điều 101. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tư lệnh quân khu và tương đương
- Điều 102. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- Điều 103. Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh
- Điều 104. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh
- Điều 105. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã
- Điều 106. Bảo đảm an ninh trật tự trong thi hành án
- Điều 107. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự
- Điều 108. Trách nhiệm của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành hình sự cấp quân khu
- Điều 109. Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Điều 110. Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội
- Điều 111. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký biện pháp bảo đảm, quản lý tài khoản, tài sản
- Điều 112. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án công tác, làm việc
