Tóm tắt Công văn số 3207/TCT-CS về việc khấu trừ tiền bồi thường đất, hỗ trợ đất
Công văn số 3207/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng, giải quyết các vướng mắc thực tế của doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương liên quan đến việc xác định và khấu trừ chi phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng vào nghĩa vụ tài chính về đất đai. Dưới đây là tổng hợp và phân tích chi tiết các nội dung chính sách cốt lõi của văn bản:
- Nguyên tắc khấu trừ tiền bồi thường, hỗ trợ đất
- Tiền bồi thường, hỗ trợ về đất và chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt sẽ được trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp của dự án.
- Mức khấu trừ tối đa không được vượt quá số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Phần chi phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng còn lại chưa được khấu trừ hết (nếu có) sẽ được tính vào vốn đầu tư của dự án theo quy định của pháp luật.
- Điều kiện để được ghi nhận và thực hiện khấu trừ
- Dự án phải có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm thu hồi đất.
- Chủ đầu tư phải có đầy đủ chứng từ, hóa đơn hợp pháp chứng minh việc đã thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo đúng phương án đã được phê duyệt.
- Hồ sơ đề nghị khấu trừ phải được cơ quan tài chính hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ xác định số tiền bồi thường giải phóng mặt bằng thẩm định, xác nhận và chuyển sang cho cơ quan thuế làm căn cứ giảm trừ nghĩa vụ tài chính.
- Quy trình phối hợp giữa các cơ quan chức năng
- Cơ quan Tài chính đóng vai trò chủ trì trong việc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định và xác định chính xác số tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng được phép khấu trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp.
- Cơ quan Thuế căn cứ vào văn bản xác định số tiền được khấu trừ do cơ quan Tài chính chuyển sang để thực hiện ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã được giảm trừ cho người sử dụng đất.
- Sự phối hợp chặt chẽ này nhằm đảm bảo tính chính xác, minh bạch, tránh thất thu ngân sách nhà nước và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư.
- Xử lý đối với các trường hợp đặc biệt
- Đối với các dự án được giao đất, thuê đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, việc khấu trừ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng phải tuân thủ nghiêm ngặt theo phương án đấu giá và các quy định pháp luật về đất đai áp dụng tại thời điểm trúng đấu giá.
- Trường hợp dự án có sự điều chỉnh về quy hoạch, quy mô hoặc mục đích sử dụng đất dẫn đến thay đổi nghĩa vụ tài chính, việc xác định lại số tiền bồi thường được khấu trừ phải dựa trên các quyết định điều chỉnh mới nhất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Lưu ý: Hướng dẫn tại Công văn số 3207/TCT-CS giúp thống nhất cách áp dụng pháp luật giữa các cơ quan thuế địa phương, tháo gỡ khó khăn về dòng tiền cho doanh nghiệp khi thực hiện các dự án đầu tư có phát sinh chi phí giải phóng mặt bằng lớn.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3207/TCT-CS | Hà Nội, ngày 25 tháng 08 năm 2008 |
Kính gửi: Cục thuế thành phố Cần Thơ
Trả lời công văn số 109/CT-THNVDT ngày 20/5/2008 của Cục Thuế thành phố Cần Thơ hỏi về khấu trừ tiền bồi thường đất, hỗ trợ đất vào tiền sử dụng đất phải nộp, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại Khoản 1, Điều 54 Luật Quản lý thuế quy định: “1. Việc xác định hoàn thành nghĩa vụ thuế trong trường hợp doanh nghiệp giải thể được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp.”
- Tại Khoản 2, Điều 21 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “2. Nhà nước thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và giao đất cho nhà đầu tư để thực hiện dự án đối với các trường hợp đã có dự án đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.”
- Tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định: “1. Nhà nước tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng: a) Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất thì tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Nghị định này được tính vào vốn đầu tư của dự án.”
- Tại Khoản 1, Điều 4 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần quy định: “1. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 3 như sau: “b) Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất đã ứng trước tiền để thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng thì được trừ số tiền đã bồi thường về đất, hỗ trợ về đất vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước, mức được trừ không vượt quá số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp”.
Căn cứ các quy định nêu trên, việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư và giải phóng mặt bằng do Nhà nước thực hiện, sau đó giao đất cho nhà đầu tư thực hiện dự án. Trường hợp, trong một dự án đầu tư vừa có diện tích đất được giao phải nộp tiền sử dụng đất và diện tích đất không phải nộp tiền sử dụng đất (công cộng) thì chưa quy định cụ thể việc khấu trừ tiền bồi thường đất, hỗ trợ đất vào tiền sử dụng đất phải nộp đối với nhà đầu tư đã ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ đất khi thu hồi diện tích đất không phải nộp tiền sử dụng đất. Đến ngày 14/9/2007, Bộ Tài chính có Công văn số 12394/BTC-QLCS gửi UBND thành phố Cần Thơ, tại điểm 2 hướng dẫn: “…. trường hợp nhà đầu tư đã ứng trước tiền để thực hiện việc bồi thường về đất, hỗ trợ về đất thì được trừ số tiền bồi thường về đất, hỗ trợ về đất (theo phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt) vào tiền sử dụng đất phải nộp cho nhà nước theo diện tích nhà đầu tư phải nộp tiền sử dụng đất; đối với phần diện tích đất còn lại của dự án thì được tính tiền đã bồi thường về đất, hỗ trợ về đất vào vốn đầu tư của dự án;”
Trường hợp trước ngày Bộ Tài chính có Công văn số 12394/BTC-QLCS gửi UBND Thành phố Cần Thơ hướng dẫn việc khấu trừ tiền sử dụng đất, tại thành phố Cần Thơ đã phát sinh việc khấu trừ tiền bồi thường về đất, hỗ trợ về đất của toàn bộ dự án (bao gồm cả diện tích đất không phải nộp tiền sử dụng đất) vào tiền sử dụng đất phải nộp thì xử lý như sau:
a) Đối với dự án đang triển khai thực hiện thì điều chỉnh giảm tiền bồi thường về đất, hỗ trợ về đất đã trừ vào tiền sử dụng đất và xác định lại tiền sử dụng đất phải nộp, các khoản thuế phải nộp của nhà đầu tư.
b) Đối với dự án đã thực hiện xong, đã quyết toán nghĩa vụ tài chính và đã giải thể thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 54 của Luật Quản lý thuế và Điều 157, 158 của Luật Doanh nghiệp. Trường hợp phát sinh vướng mắc đề nghị Cục Thuế báo cáo để Tổng cục xem xét trình cấp thẩm quyền giải quyết.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Luật Doanh nghiệp 2005
- 2Nghị định 17/2006/NĐ-CP sửa đổi Nghị định hướng dẫn Luật Đất đai và Nghị định 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần
- 3Luật quản lý thuế 2006
- 4Luật Đất đai 2003
- 5Nghị định 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần
- 6Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Công văn số 3207/TCT-CS về việc khấu trừ tiền bồi thường đất, hỗ trợ đất do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3207/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 25/08/2008
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 25/08/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
