Thông tin chung về Công văn 5155/TCT-TNCN
Công văn 5155/TCT-TNCN do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn các cục thuế địa phương và doanh nghiệp thực hiện đúng chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động. Đây là văn bản pháp lý quan trọng giúp làm rõ ranh giới giữa các khoản chi phí phúc lợi tập thể và các khoản thu nhập chịu thuế cá nhân.
Chính sách thuế TNCN đối với thẻ hội viên và các dịch vụ vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe
Một trong những nội dung cốt lõi của Công văn 5155/TCT-TNCN là hướng dẫn cách xác định thuế TNCN đối với các khoản chi phí mua thẻ hội viên (như thẻ chơi golf, thẻ sân quần vợt, thẻ dịch vụ tại các câu lạc bộ thể thao, spa) và các dịch vụ vui chơi, giải trí khác do doanh nghiệp chi trả:
- Trường hợp tính vào thu nhập chịu thuế TNCN: Nếu thẻ hội viên hoặc các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí ghi đích danh tên của cá nhân hoặc một nhóm cá nhân cụ thể sử dụng. Doanh nghiệp có nghĩa vụ quy đổi và cộng khoản chi phí này vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của người lao động được thụ hưởng để thực hiện khấu trừ thuế theo quy định.
- Trường hợp không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN: Nếu thẻ hội viên hoặc các dịch vụ nêu trên được sử dụng chung cho tập thể người lao động, phục vụ cho hoạt động tiếp khách, đối ngoại chung của doanh nghiệp và không ghi đích danh cho bất kỳ cá nhân hay nhóm cá nhân cụ thể nào sử dụng.
Chính sách thuế TNCN đối với chi phí đào tạo và nâng cao tay nghề
Công văn cũng làm rõ quy định về thuế TNCN đối với các khoản chi phí đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động do doanh nghiệp chi trả:
- Khoản chi không tính vào thu nhập chịu thuế: Chi phí doanh nghiệp thanh toán cho các khóa học đào tạo, nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động phù hợp với công việc chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động hoặc theo kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực đã được phê duyệt của doanh nghiệp.
- Khoản chi phải tính vào thu nhập chịu thuế: Trường hợp doanh nghiệp chi trả học phí cho các khóa học không liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ của người lao động, hoặc chi trả học phí cho con em của người lao động (ngoại trừ trường hợp con của người lao động nước ngoài học tại Việt Nam, con của người lao động Việt Nam định cư ở nước ngoài học tại nước ngoài từ bậc mầm non đến trung học phổ thông do doanh nghiệp trả thay theo quy chế).
Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc khấu trừ và quyết toán thuế
Để đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật về thuế TNCN, Tổng cục Thuế yêu cầu các tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện các nguyên tắc sau:
- Phân loại chính xác chứng từ: Doanh nghiệp cần phân biệt rõ ràng giữa chứng từ chi cho cá nhân (có danh sách đích danh) và chứng từ chi cho tập thể để làm căn cứ tính thuế TNCN chính xác.
- Hoàn thiện hồ sơ pháp lý: Doanh nghiệp phải lưu trữ đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp, quy chế tài chính của công ty hoặc hợp đồng lao động có quy định cụ thể về các khoản phúc lợi này để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra thuế sau này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5155/TCT-TNCN | Hà Nội, ngày 17 tháng 12 năm 2010 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Thái Bình
Trả lời công văn số 1943/CT-TNCN ngày 29/9/2010 của Cục Thuế tỉnh Thái Bình đề nghị hướng dẫn chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN), Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại Điều 68, Điều 69, Điều 70, Mục I, Chương VII, Bộ luật Lao động của Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã được sửa đổi bổ sung) tại Luật của Quốc Hội số 35/2002/QH10 ngày 02/04/2002 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động quy định:
“1- Thời gian làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần. Người sử dụng lao động có quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết.
2- Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành ...
Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận làm thêm giờ, nhưng không được quá bốn giờ trong một ngày, 200 giờ trong một năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm không quá 300 giờ trong một năm do Chính phủ quy định, sau khi tham khảo ý kiến của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động...
Thời giờ làm việc ban đêm tính từ 22 giờ đến 6 giờ hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ, tuỳ theo vùng khí hậu do Chính phủ quy định.”
- Tại điểm 9, mục III, Phần A Thông tư số 84/2008/TT- BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/09/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân hướng dẫn các khoản thu nhập được miễn thuế bao gồm:
“ 9. Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động:
9.1.Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ đi mức lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.
Ví dụ: Một cá nhân có mức lương trả theo ngày làm việc bình thường theo quy định của Bộ luật Lao động là 200.000 đồng/giờ.
- Trường hợp cá nhân làm thêm giờ vào ngày thường, cá nhân được trả 30.000 đồng/giờ thì thu nhập được miễn thuế là:
30.000 đồng/giờ - 20.000 đồng/giờ = 10.000 đồng/giờ.
- Trường hợp cá nhân làm thêm giờ vào ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cá nhân được trả 40.000 đồng/giờ thì thu nhập được miễn thuế là:
40.000 đồng/giờ - 20.000 đồng/giờ = 20.000 đồng/giờ
9.2. Đơn vị sử dụng lao động phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được gửi cho cơ quan thuế cùng với hồ sơ khai quyết toán thuế”.
Căn cứ quy định, hướng dẫn nêu trên, làm thêm giờ là thời gian làm việc ngoài thời gian quy định tại Điều 68, Điều 69, Điều 70, Mục I, Chương VII, Bộ luật Lao động của Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã được sửa đổi, bổ sung) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2003 tai một đơn vị sử dụng lao động. Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm thêm giờ (không có khái niệm “làm ngoài giờ”) được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động thì được miễn thuế thu nhập cá nhân. Đơn vị sử dụng lao động phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động và gửi Bảng kê này cho Cơ quan Thuế cùng với hồ sơ khai quyết toán thuế.
- Tại Điều 5, Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung tiết 1.2.7, khoản 1, Mục II, Phần D Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
“Các tổ chức, cá nhân chi trả tiền hoa hồng đại lý bán hàng hoá; tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân thực hiện các dịch vụ có tổng mức trả thu nhập từ 500.000 đồng trở lên cho mỗi lần chi trả hoặc tổng giá trị hoa hồng, tiền công dịch vụ thì phải khấu trừ thuế trước khi trả thu nhập cho cá nhân theo hướng dẫn sau:
- Áp dụng thống nhất một mức khấu trừ theo tỷ lệ 10% trên thu nhập chi trả, trừ các trường hợp Bộ Tài chính đã có văn bản hướng dẫn mức tạm khấu trừ riêng (như tiền hoa hồng đại lý bảo hiểm, tiền hoa hồng đại lý xổ số).
- Trường hợp cá nhân làm đại lý bán hàng hoá (kể cả đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số) hoặc thực hiện các dịch vụ chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh không đến mức phải nộp thuế (ví dụ cá nhân có thu nhập không đến 48 triệu đồng/năm nếu là độc thân hoặc dưới 67,2 triệu đồng/năm nếu có 01 người phụ thuộc hoặc dưới 86,4 triệu đồng/năm nếu có 02 người phụ thuộc...) thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo Mẫu số 23/BCK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư này) gửi cơ quan chi trả thu nhập để cơ quan chi trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ 10% thuế TNCN. Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập đơn vị chi trả thu nhập tạm thời không khấu trừ thuế nhưng hết năm vẫn phải cung cấp danh sách để cơ quan thuế biết. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế”.
Căn cứ các hướng dẫn nêu trên, trường hợp giáo viên trường Đại học Y Thái Bình thực hiện các dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đại học Y, mà không ký hợp động lao động, có tổng mức trả thu nhập từ 500.000 đồng/lần trở lên thì Bệnh viện Đại học Y khải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân của các cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập chi trả đồng thời Bệnh viện Đại học Y phải có trách nhiệm cấp chứng từ khấu trừ thuế theo yêu cầu của cá nhân bị khấu trừ.
Đối với trường hợp cá nhân thực hiện các dịch vụ chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%, nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết theo mẫu số 23/BCK-TNCN (ban hành kèm theo Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính nêu trên) gửi cơ quan chi trả thu nhập để cơ quan chi trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ 10% thuế TNCN. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.
Đối với trường hợp người lao động có từ 2 nguồn thu nhập trở lên, không phải thu nhập từ làm thêm giờ, không có sự quản lý của cơ quan chi trả thu nhập (như thu nhập của các giáo viên ngoài thời gian giảng dạy theo sự phân công của nhà trường có tham gia giảng dạy tại các lò luyện thi hoặc mở lớp dạy thêm tại nhà và có thu nhập từ việc dạy thêm) thì người lao động phải tự kê khai và tự chịu trách nhiệm đối với nguồn thu nhập này.
Đối với trường hợp kỹ sư trong Công ty tư vấn, khảo sát thiết kế xây dựng, ngoài việc hoàn thành khối lượng công việc do Công ty giao có nhận tư vấn, thiết kế, thi công các công trình xây dựng và nhận được thù lao thì cần phải làm rõ các vấn đền liên quan đến người trả thu nhập, cách thức, nội dung giao nhận công việc để xác định khoản thu nhập trên chịu thuế thu nhập cá nhân như thế nào. Trường hợp các kỹ sư chứng minh được công việc đó là công việc “làm thêm giờ” theo quy định của Bộ luật Lao động thì thu nhập tiền lương, tiền công từ công việc đó được miễn thuế thu nhập cá nhân theo hướng dẫn tại Điểm 9, Mục III, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài chính nêu trên. Trường hợp các kỹ sư tự nhận việc ngoài Công ty (không thoả mãn điều kiện “làm thêm giờ” theo quy định của Bộ luật Lao động) thì thu nhập từ công việc đó không được miễn thuế thu nhập cá nhân theo hướng dẫn tại Điểm 9, Mục III, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 nêu trên và cá nhân phải kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập này.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế tỉnh Thái Bình được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Luật quản lý thuế 2006
- 2Bộ luật Lao động 1994
- 3Bộ Luật Lao động sửa đổi 2002
- 4Thông tư 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân do Bộ Tài chính ban hành
- 5Thông tư 62/2009/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều Luật Thuế thu nhập cá nhân do Bộ Tài chính ban hành
Công văn 5155/TCT-TNCN về chính sách thuế thu nhập cá nhân do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 5155/TCT-TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 17/12/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 17/12/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
