Tóm tắt Công văn 4899/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL về xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần
Công văn số 4899/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL do Bộ Tư pháp ban hành ngày 14 tháng 12 năm 2018 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính nhiều lần. Dưới đây là nội dung tóm tắt chi tiết và chuyên sâu về các chính sách, quy định cốt lõi được nêu tại Công văn này.
- Khái niệm và cách xác định hành vi vi phạm hành chính nhiều lần
- Theo quy định tại Khoản 6 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, vi phạm hành chính nhiều lần được hiểu là việc cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý.
- Để xác định một hành vi là vi phạm hành chính nhiều lần, cần thỏa mãn đồng thời các điều kiện: đối tượng thực hiện cùng một hành vi vi phạm nhiều lần; các lần vi phạm trước đó đều chưa bị ra quyết định xử phạt hoặc chưa bị xử lý kỷ luật; và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các lần vi phạm đó vẫn còn hiệu lực pháp luật.
- Cần phân biệt rõ ràng giữa "vi phạm hành chính nhiều lần" với "tái phạm". Tái phạm là trường hợp cá nhân, tổ chức đã bị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi vi phạm tương tự.
- Nguyên tắc áp dụng hình thức xử phạt đối với vi phạm nhiều lần
- Trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng: Nếu Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành có quy định hành vi "vi phạm hành chính nhiều lần" là tình tiết tăng nặng, thì người có thẩm quyền chỉ ra một quyết định xử phạt đối với hành vi đó, đồng thời áp dụng tình tiết tăng nặng "vi phạm hành chính nhiều lần" theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Trường hợp xử phạt độc lập từng hành vi: Nếu Nghị định xử phạt vi phạm hành chính chuyên ngành không quy định "vi phạm hành chính nhiều lần" là tình tiết tăng nặng, đồng thời không quy định hành vi đó là hành vi vi phạm kéo dài hoặc liên tục, thì người có thẩm quyền phải tiến hành xử phạt độc lập đối với từng lần vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức đó.
- Việc áp dụng nguyên tắc xử phạt độc lập từng hành vi nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, tránh việc gộp nhiều hành vi vi phạm nghiêm trọng thành một hành vi duy nhất để giảm nhẹ mức phạt một cách bất hợp lý.
- Thẩm quyền xử phạt khi thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính
- Khi một cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính bị xử phạt độc lập, việc xác định thẩm quyền xử phạt phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định tại Khoản 4 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi vi phạm đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc về người đó.
- Trong trường hợp có ít nhất một hành vi vi phạm có mức xử phạt vượt quá thẩm quyền của người đang thụ lý, giải quyết vụ việc, thì người đó không được quyền ra quyết định xử phạt mà phải chuyển toàn bộ hồ sơ vụ vi phạm đến người có thẩm quyền cao hơn để xem xét, ra quyết định xử phạt chung cho tất cả các hành vi.
- Thủ tục lập biên bản và ban hành quyết định xử phạt
- Về việc lập biên bản vi phạm hành chính: Người có thẩm quyền có thể lập một biên bản vi phạm hành chính chung cho tất cả các lần vi phạm, nhưng trong biên bản phải mô tả chi tiết, rõ ràng từng hành vi vi phạm, thời gian, địa điểm xảy ra từng lần vi phạm cụ thể để làm căn cứ pháp lý vững chắc cho việc ra quyết định xử phạt.
- Về việc ban hành quyết định xử phạt: Tùy thuộc vào tính chất vụ việc và thẩm quyền xử lý, người có thẩm quyền có thể ban hành một quyết định xử phạt chung (trong đó ghi rõ hình thức xử phạt và mức phạt đối với từng hành vi cụ thể rồi tổng hợp lại) hoặc ban hành nhiều quyết định xử phạt riêng biệt cho từng hành vi vi phạm hành chính.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4899/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL | Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2018 |
Kính gửi: Văn phòng Chính phủ
Trả lời Công văn số 11928/VPCP-ĐMDN ngày 07/12/2018 của Văn phòng Chính phủ về đề nghị của Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn Minh Đăng Quang, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:
1. Khoản 6 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back) quy định: “Vi phạm hành chính nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý”.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thủ tục thuế là 02 năm.
Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế cũng quy định: “Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là 02 năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện đến ngày ra quyết định xử phạt. Ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn phải thực hiện thủ tục về thuế theo quy định của Luật quản lý thuế. Đối với trường hợp làm thủ tục về thuế bằng điện tử thì ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn làm thủ tục theo quy định của cơ quan có thẩm quyền”.
2. Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, đối chiếu với vụ việc được nêu trong Công văn số 11928/VPCP-ĐMDN, Bộ Tư pháp thấy rằng:
Thứ nhất, tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền phát hiện ra doanh nghiệp đã thực hiện nhiều lần cùng một hành vi “chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định” quy định tại Điều 7 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP.
Thứ hai, tất cả các hành vi này đều đã được thực hiện xong (không có hành vi nào đang được thực hiện), tại các điểm khác nhau và đều chưa bị xử lý, chưa hết thời hiệu xử lý.
Do vậy, có thể coi đây là trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần.
3. Hướng xử lý đối với trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần
Về trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần, hiện nay, Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back đang có những quy định không thống nhất trong chế tài xử lý, cụ thể là:
- Điểm d khoản 1 Điều 3 của Luật quy định việc xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính;
- Điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật quy định vi phạm hành chính nhiều lần chỉ là tình tiết tăng nặng. Điều này có nghĩa là, nếu đối tượng thực hiện hành vi vi phạm hành chính nhiều lần thì chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính đối với 01 hành vi và áp dụng tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần.
Như vậy, điểm d khoản 1 Điều 3 và điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back đều quy định chế tài xử lý đối với trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần. Nhưng việc áp dụng từng chế tài sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau.
Đối chiếu với vụ việc được nêu tại Công văn số 11928/VPCP-ĐMDN, Bộ Tư pháp thấy rằng, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đang áp dụng điểm d khoản 1 Điều 3 của Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back để xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính của doanh nghiệp (đồng thời, mỗi hành vi bị xử phạt đều bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần).
Trong bối cảnh các quy định pháp luật chưa có sự thống nhất như đã nêu trên, trường hợp này, theo Bộ Tư pháp, nên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back để bảo đảm nguyên tắc có lợi cho đương sự trong áp dụng pháp luật. Theo đó, chỉ xử phạt vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp về 01 hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định và áp dụng tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần (xử phạt đối với hành vi có chế tài xử phạt nặng nhất trong số các hành vi vi phạm nhiều lần).
Về lâu dài, trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back, Bộ Tư pháp sẽ báo cáo Chính phủ kiến nghị Quốc hội sửa đổi các quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 và điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back để bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật1.
Trên đây là ý kiến của Bộ Tư pháp về kiến nghị của Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn Minh Đăng Quang, gửi tới Văn phòng Chính phủ.
Trân trọng./.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG |
1 Hiện nay, hồ sơ đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back đang được Bộ Tư pháp trình Chính phủ. Thời gian dự kiến trình Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back: Quý IV năm 2020 (theo Tờ trình số 49/TTr-BTP ngày 04/12/2018 của Bộ Tư pháp gửi Chính phủ về việc đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính need_replace_back).
- 1Công văn 441/TTR-TTCN năm 2012 về hiệu lực của quyết định xử phạt vi phạm hành chính do Thanh tra Bộ Tư pháp ban hành
- 2Công văn 5049/BTP-BTTP năm 2014 xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư do Bộ Tư pháp ban hành
- 3Công văn 2659/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL năm 2017 về giải quyết khó khăn, vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính do Bộ Tư pháp ban hành
- 1Luật quản lý thuế 2006
- 2Luật xử lý vi phạm hành chính 2012
- 3Công văn 441/TTR-TTCN năm 2012 về hiệu lực của quyết định xử phạt vi phạm hành chính do Thanh tra Bộ Tư pháp ban hành
- 4Nghị định 129/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- 5Công văn 5049/BTP-BTTP năm 2014 xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư do Bộ Tư pháp ban hành
- 6Công văn 2659/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL năm 2017 về giải quyết khó khăn, vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính do Bộ Tư pháp ban hành
Công văn 4899/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL năm 2018 về xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần do Bộ Tư pháp ban hành
- Số hiệu: 4899/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/12/2018
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Đặng Thanh Sơn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/12/2018
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
