Tổng quan về Công văn 284/TCT-DNL năm 2019
Công văn 284/TCT-DNL do Tổng cục Thuế ban hành năm 2019 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam. Nội dung công văn tập trung giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc lập hóa đơn, chứng từ và kê khai thuế trong trường hợp hoàn trả phí bảo hiểm cho khách hàng do thay đổi nội dung hợp đồng, giảm phí hoặc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trước thời hạn.
- Quy định đối với khách hàng là tổ chức, cá nhân kinh doanh
- Nghĩa vụ lập hóa đơn: Khi phát sinh nghiệp vụ hoàn trả phí bảo hiểm (một phần hoặc toàn bộ), nếu khách hàng là tổ chức kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh có sử dụng hóa đơn, khách hàng phải có trách nhiệm lập hóa đơn giao cho doanh nghiệp bảo hiểm.
- Nội dung trên hóa đơn: Trên hóa đơn do khách hàng lập phải ghi rõ số tiền phí bảo hiểm được hoàn trả, tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT) tương ứng, lý do hoàn trả phí và thông tin tham chiếu đến hóa đơn gốc đã lập trước đó.
- Căn cứ kê khai thuế: Doanh nghiệp bảo hiểm căn cứ vào hóa đơn do khách hàng xuất để thực hiện kê khai giảm doanh thu chịu thuế và giảm số thuế GTGT đầu ra tương ứng. Đồng thời, khách hàng cũng căn cứ vào hóa đơn này để giảm chi phí và giảm thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ.
- Quy định đối với khách hàng là cá nhân, tổ chức không kinh doanh
- Thủ tục thay thế hóa đơn: Do đối tượng khách hàng này không có chức năng xuất hóa đơn, doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng phải lập biên bản thỏa thuận hoặc thỏa thuận bằng văn bản.
- Yêu cầu đối với biên bản thỏa thuận: Văn bản thỏa thuận phải thể hiện rõ ràng các thông tin bao gồm: lý do hoàn trả phí bảo hiểm, số tiền phí bảo hiểm được hoàn trả (chưa có thuế GTGT), số tiền thuế GTGT được hoàn trả, và số tiền thực tế chi trả cho khách hàng. Biên bản phải có chữ ký xác nhận của cả hai bên.
- Chứng từ kèm theo: Doanh nghiệp bảo hiểm phải lưu trữ biên bản thỏa thuận cùng với chứng từ chi tiền (phiếu chi hoặc chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt) để làm căn cứ pháp lý.
- Kê khai giảm thuế: Doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng biên bản thỏa thuận và chứng từ chi tiền hợp lệ để kê khai giảm doanh thu tính thuế và giảm số thuế GTGT đầu ra đã kê khai trước đó.
- Căn cứ pháp lý áp dụng
- Các hướng dẫn tại Công văn 284/TCT-DNL được xây dựng dựa trên các quy định pháp luật về thuế GTGT và quản lý hóa đơn hiện hành tại thời điểm ban hành, bao gồm Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định hướng dẫn thi hành và các Thông tư của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
- Việc phân biệt rõ ràng hai đối tượng khách hàng (kinh doanh và không kinh doanh) giúp doanh nghiệp bảo hiểm chuẩn hóa quy trình kế toán, tránh các rủi ro pháp lý khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra quyết toán thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 284/TCT-DNL | Hà Nội, ngày 25 tháng 01 năm 2019 |
Kính gửi: Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA
(Địa chỉ: Tòa nhà Saigon Centre, Tháp 2, 67 Lê Lợi, P.Bến Nghé, Quận 1, TP Hồ Chí Minh)
Ngày 19/12/2018, Tổng cục Thuế nhận được công văn số 0112/CV-AIA của Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ AIA kiến nghị về việc hóa đơn khi hoàn trả phí bảo hiểm cho khách hàng. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ Điều 1 Thông tư số 09/2011/TT-BTC ngày 21/1/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm quy định:
“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Căn cứ khoản 2(d) Điều 9 Thông tư số 09/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về hàng hóa, chứng từ mua bán hàng hóa, dịch vụ đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm quy định:
“Trường hợp khách hàng tham gia bảo hiểm là tổ chức kinh doanh, khi hoàn trả phí bảo hiểm (một phần hoặc toàn bộ), doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm lập hóa đơn GTGT, trên hóa đơn ghi rõ số tiền phí bảo hiểm do công ty bảo hiểm hoàn trả, tiền thuế GTGT, lý do hoàn trả phí bảo hiểm. Hóa đơn này là căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm điều chỉnh doanh số bán, số thuế GTGT đầu ra, tổ chức tham gia bảo hiểm điều chỉnh chi phí mua bảo hiểm, số thuế GTGT đã kê khai hoặc đã khấu trừ.
Trường hợp khách hàng tham gia bảo hiểm là đối tượng không có hóa đơn GTGT, khi hoàn trả tiền phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng tham gia bảo hiểm phải lập biên bản hoặc thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ số tiền phí bảo hiểm được hoàn trả (không bao gồm thuế GTGT), số tiền thuế GTGT theo hóa đơn thu phí bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã thu (số ký hiệu, ngày, tháng của hóa đơn), lý do hoàn trả phí bảo hiểm. Biên bản này được lưu giữ cùng với hóa đơn thu phí bảo hiểm để làm căn cứ điều chỉnh kê khai doanh thu, thuế GTGT của doanh nghiệp bảo hiểm. Trường hợp khách hàng không cung cấp được hóa đơn thu phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm căn cứ vào hóa đơn lưu tại doanh nghiệp và biên bản hoặc văn bản thỏa thuận để thực hiện hoàn trả số tiền phí bảo hiểm chưa bao gồm thuế GTGT.”
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA hoàn trả phí bảo hiểm (một phần hoặc toàn bộ) cho khách hàng là tổ chức tham gia bảo hiểm thì khi hoàn trả phí bảo hiểm tổ chức tham gia bảo hiểm lập hóa đơn GTGT, trên hóa đơn ghi rõ số tiền phí bảo hiểm do công ty bảo hiểm hoàn trả, tiền thuế GTGT, lý do hoàn trả phí bảo hiểm. Hóa đơn này là căn cứ để Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA điều chỉnh doanh số bán, số thuế GTGT đầu ra, tổ chức tham gia bảo hiểm điều chỉnh chi phí mua bảo hiểm, số thuế GTGT đã kê khai hoặc đã khấu trừ.
Đối với trường hợp khách hàng tham gia bảo hiểm là đối tượng không có hóa đơn GTGT, khi hoàn trả tiền phí bảo hiểm, Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA và khách hàng tham gia bảo hiểm phải lập biên bản hoặc thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ số tiền phí bảo hiểm được hoàn trả (không bao gồm thuế GTGT), số tiền thuế GTGT theo hóa đơn thu phí bảo hiểm mà Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA đã thu (số ký hiệu, ngày, tháng của hóa đơn), lý do hoàn trả phí bảo hiểm. Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA căn cứ biên bản và hóa đơn thu phí bảo hiểm để làm căn cứ điều chỉnh kê khai doanh thu. Trường hợp khách hàng không cung cấp được hóa đơn thu phí bảo hiểm thì Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA căn cứ vào hóa đơn lưu tại Công ty và biên bản hoặc văn bản thỏa thuận để thực hiện hoàn trả số tiền phí bảo hiểm chưa bao gồm thuế GTGT.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA được biết và thực hiện./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 2782/TCT-DNL năm 2016 về hóa đơn khi hoàn phí bảo hiểm do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 3991/BHXH-TCKT năm 2017 sử dụng hóa đơn điện tử trong thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành
- 3Công văn 4705/TCT-CS năm 2017 về sử dụng hóa đơn, biên lai khi thực hiện thanh quyết toán kinh phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Thông tư 09/2011/TT-BTC hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm do Bộ Tài chính ban hành
- 2Công văn 2782/TCT-DNL năm 2016 về hóa đơn khi hoàn phí bảo hiểm do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 3991/BHXH-TCKT năm 2017 sử dụng hóa đơn điện tử trong thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành
- 4Công văn 4705/TCT-CS năm 2017 về sử dụng hóa đơn, biên lai khi thực hiện thanh quyết toán kinh phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 284/TCT-DNL năm 2019 về hóa đơn hoàn trả phí bảo hiểm do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 284/TCT-DNL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 25/01/2019
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Đặng Ngọc Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 25/01/2019
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
