Tóm tắt Công văn 1854/TCT-KK về cấp mã số doanh nghiệp
Công văn 1854/TCT-KK do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình cấp mã số doanh nghiệp (đồng thời là mã số thuế) giữa cơ quan Thuế và cơ quan Đăng ký kinh doanh. Văn bản này tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình phối hợp liên thông, xử lý các lỗi kỹ thuật hệ thống và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho doanh nghiệp khi gia nhập thị trường.
1. Nguyên tắc liên thông và cấp mã số doanh nghiệp tự động
Văn bản hướng dẫn chi tiết về cơ chế liên thông điện tử giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế:
- Mã số doanh nghiệp được tạo lập tự động bởi Hệ thống thông tin đăng ký thuế của Tổng cục Thuế và được chuyển sang Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để cấp cho doanh nghiệp khi đăng ký thành lập.
- Mã số doanh nghiệp đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động, từ khi thành lập cho đến khi chấm dứt tồn tại.
- Mỗi doanh nghiệp chỉ được cấp một mã số duy nhất và không được sử dụng lại để cấp cho tổ chức, cá nhân khác.
2. Quy trình phối hợp xử lý lỗi truyền nhận dữ liệu
Trong trường hợp xảy ra sự cố kỹ thuật khiến việc cấp mã số doanh nghiệp tự động bị gián đoạn, Công văn 1854/TCT-KK đưa ra các giải pháp khắc phục cụ thể:
- Cơ quan Thuế địa phương phải chủ động phối hợp chặt chẽ với Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh để rà soát, xác định nguyên nhân lỗi (do đường truyền, do dữ liệu trùng lặp hoặc do lỗi hệ thống).
- Đối với các hồ sơ bị treo hoặc không nhận được phản hồi từ hệ thống thuế, cán bộ công nghệ thông tin của cơ quan Thuế phải thực hiện tra cứu trên hệ thống quản lý thuế tập trung để can thiệp kỹ thuật kịp thời, tránh kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ của doanh nghiệp.
- Trường hợp lỗi hệ thống từ phía Tổng cục Thuế, Cục Thuế địa phương phải báo cáo ngay về Tổng cục Thuế để được hỗ trợ xử lý khẩn cấp.
3. Hướng dẫn xử lý các trường hợp đặc biệt khi cấp mã số
Công văn cũng làm rõ phương án giải quyết đối với một số tình huống đặc thù trong thực tế:
- Trường hợp thông tin đăng ký doanh nghiệp bị trùng lặp: Hệ thống thuế sẽ tự động cảnh báo nếu phát hiện thông tin người đại diện pháp luật hoặc địa chỉ trụ sở trùng với doanh nghiệp đang nợ thuế hoặc đang trong tình trạng tạm ngừng hoạt động không đúng quy định. Cơ quan Thuế sẽ hướng dẫn doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ thuế trước khi tiếp tục cấp mã số mới.
- Trường hợp doanh nghiệp chuyển đổi loại hình: Hướng dẫn quy trình bảo lưu mã số thuế cũ hoặc cấp mã số mới theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Quản lý thuế hiện hành, đảm bảo tính liên tục trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.
4. Trách nhiệm triển khai của cơ quan Thuế các cấp
Để đảm bảo tính hiệu quả và đồng bộ, Tổng cục Thuế yêu cầu:
- Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt nội dung hướng dẫn đến từng Chi cục Thuế và các phòng ban chuyên môn.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thời gian xử lý hồ sơ cấp mã số doanh nghiệp, không để xảy ra tình trạng trễ hạn do nguyên nhân chủ quan từ phía cán bộ thuế.
- Thiết lập đường dây nóng hoặc bộ phận hỗ trợ chuyên trách để tiếp nhận và giải quyết nhanh chóng các phản ánh của doanh nghiệp liên quan đến việc cấp mã số thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1854/TCT-KK | Hà Nội, ngày 31 tháng 05 năm 2010 |
Kính gửi: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng
Trả lời công văn số 13/SKHĐT-ĐKKD ngày 08/01/2010 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng về việc xin ý kiến hướng dẫn việc cấp mã số cho doanh nghiệp. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Khoản 1, Điều 24, Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành một số Điều của Luật Doanh nghiệp quy định về việc chuyển đổi DNTN thành công ty trách nhiệm hữu hạn: “DNTN có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn theo quyết định của chủ DNTN nếu đủ các Điều kiện quy định tại các Điểm a, b, c, d, đ Điều này”.
Tại Điểm 3.3, Phần I và Điểm 1, Mục IV, Phần II, Thông tư số 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế quy định: “Riêng mã số thuế đã cấp cho người nộp thuế là chủ DNTN, … không thay đổi trong suốt cuộc đời của cá nhân đó, kể cả trường hợp đã ngừng hoạt động kinh doanh sau đó kinh doanh trở lại”; “Các doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân) chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ loại hình doanh nghiệp này sang loại hình doanh nghiệp khác theo quy định của Luật doanh nghiệp phải thực hiện kê khai đăng ký thuế với cơ quan Thuế”.
Theo những quy định trên, DNTN chỉ được cấp một MST duy nhất nên việc chuyển đổi từ DNTN sang công ty TNHH hay chuyển đổi chủ sở hữu từ chủ DNTN này sang chủ DNTN khác (trong trường hợp bán DNTN) sẽ không được giữ nguyên mã số thuế cũ. Để tháo gỡ vướng mắc này, ngày 24/12/2009, Bộ Tài chính đã có công văn số 18140/BTC-TCT gửi Cục Thuế cả nước hướng dẫn về việc cấp MST của DNTN và mã số thuế TNCN của chủ DNTN. Theo đó: “Mỗi DNTN được cấp một MST duy nhất làm mã số doanh nghiệp theo tinh thần chỉ đạo tại Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP của Chính phủ, để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh, kể cả trường hợp mua bán DNTN và chuyển đổi thành loại hình doanh nghiệp khác, DNTN sử dụng MST này để kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp và kê khai khấu trừ thuế TNCN đối với người lao động thuộc doanh nghiệp”.
Như vậy, căn cứ các quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế hiện hành thì:
- Về việc chuyển đổi loại hình của DNTN: DNTN được chuyển đổi loại hình thành công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định, trước khi làm thủ tục chuyển đổi, đăng ký hoạt động theo loại hình doanh nghiệp mới, chủ DNTN phải làm thủ tục bổ sung thông tin doanh nghiệp, quyết toán hóa đơn theo quy định. Mã số thuế của DNTN được giữ nguyên để sử dụng cho loại hình công ty mới.
- Về người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện của DNTN: pháp luật về đăng ký kinh doanh không quy định người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện của DNTN phải là chủ DNTN. Như vậy, để tạo Điều kiện cho các DNTN được mở rộng địa bàn kinh doanh, tiếp cận thị trường, khi thành lập chi nhánh hay văn phòng đại diện, chủ DNTN phải có quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền (bằng văn bản) đối với người đứng đầu của chi nhánh, văn phòng đại diện. Với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp, chủ DNTN phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như hoạt động của các chi nhánh, văn phòng đại diện.
Tổng cục Thuế trả lời để Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng biết.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Luật Doanh nghiệp 2005
- 2Thông tư 85/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật quản lý thuế về việc đăng ký thuế do Bộ Tài chính ban hành
- 3Nghị định 139/2007/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Doanh nghiệp
- 4Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP về việc một số giải pháp xử lý những vướng mắc trong hoạt động đầu tư xây dựng và cải cách một số thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp do Chính phủ ban hành
- 5Công văn 18140/BTC-TCT cấp mã số thuế của doanh nghiệp tư nhân và mã số thuế thu nhập cá nhân của chủ doanh nghiệp tư nhân do Bộ Tài chính ban hành
- 6Công văn 3958/TCHQ-KTTT về mã số doanh nghiệp do Tổng cục Hải quan ban hành
- 7Thông tư 127/2015/TT-BTC hướng dẫn cấp mã số doanh nghiệp thành lập mới và phân công cơ quan thuế quản lý đối với doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Công văn 1854/TCT-KK về cấp mã số doanh nghiệp do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 1854/TCT-KK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 31/05/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Bùi Văn Nam
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 31/05/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
