Tóm tắt Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5666:1992 về Sinh vật phẩm - Phương pháp lấy mẫu và lưu mẫu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5666:1992 quy định những nguyên tắc kỹ thuật và pháp lý cơ bản trong công tác lấy mẫu, bảo quản và lưu mẫu đối với các loại sinh vật phẩm. Đây là những quy định bắt buộc nhằm đảm bảo tính đại diện, tính khách quan và độ chính xác của mẫu thử nghiệm trong suốt quá trình đánh giá chất lượng sản phẩm sinh học.
Điều 1: Phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn
Điều khoản này xác định rõ giới hạn không gian, đối tượng và các bên chịu sự điều chỉnh của tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn này áp dụng đối với tất cả các loại sinh vật phẩm (bao gồm vắc xin, kháng huyết thanh, kháng nguyên, chẩn đoán phẩm và các chế phẩm sinh học khác) dùng trong ngành y tế và thú y tại Việt Nam.
- Quy định này là căn cứ pháp lý bắt buộc đối với các cơ quan kiểm nghiệm, cơ sở sản xuất, đơn vị nhập khẩu và phân phối sinh vật phẩm khi tiến hành lấy mẫu để kiểm tra chất lượng hoặc giải quyết tranh chấp thương mại.
Điều 2: Các quy định chung trong công tác lấy mẫu
Để đảm bảo mẫu được lấy phản ánh trung thực chất lượng của cả lô sản phẩm, tiêu chuẩn đề ra các nguyên tắc chung nghiêm ngặt sau:
- Yêu cầu về nhân sự: Việc lấy mẫu phải được thực hiện bởi kiểm nghiệm viên hoặc cán bộ kỹ thuật có chuyên môn nghiệp vụ, được đào tạo bài bản và có thẩm quyền pháp lý rõ ràng.
- Yêu cầu về điều kiện vô trùng: Toàn bộ quá trình lấy mẫu phải được tiến hành trong môi trường vô trùng để tránh tạp nhiễm vi sinh vật từ bên ngoài, làm sai lệch kết quả kiểm nghiệm.
- Yêu cầu về dụng cụ: Tất cả dụng cụ lấy mẫu và đồ chứa mẫu phải được tiệt trùng, khô ráo, không chứa các hóa chất độc hại làm ảnh hưởng đến hoạt tính sinh học của mẫu.
- Thủ tục hành chính: Ngay sau khi hoàn thành việc lấy mẫu, phải lập biên bản lấy mẫu có chữ ký xác nhận của người lấy mẫu và đại diện cơ sở được lấy mẫu.
Điều 3: Phương pháp lấy mẫu chi tiết
Phương pháp lấy mẫu được thiết kế dựa trên nguyên tắc xác suất thống kê nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất:
- Xác định tính đồng nhất của lô: Mẫu chỉ được lấy từ các lô sản phẩm được xác định là đồng nhất về nguyên liệu, quy trình công nghệ, thời gian sản xuất và quy cách đóng gói.
- Nguyên tắc lấy mẫu ngẫu nhiên: Các đơn vị mẫu phải được lấy hoàn toàn ngẫu nhiên từ các vị trí khác nhau trong lô hàng (trên, dưới, giữa, trước, sau) theo sơ đồ lấy mẫu quy định.
- Cỡ mẫu và số lượng mẫu: Tiêu chuẩn quy định cụ thể công thức tính số lượng mẫu cần lấy dựa trên tổng quy mô của lô sản phẩm. Số lượng mẫu lấy phải đủ để thực hiện đầy đủ các chỉ tiêu kiểm nghiệm theo quy trình và phải có phần dư để làm mẫu lưu đối chứng.
Điều 4: Quy định về lưu mẫu và bảo quản mẫu
Công tác lưu mẫu đóng vai trò quyết định trong việc đối chiếu kết quả và giải quyết khiếu nại phát sinh sau này:
- Điều kiện bảo quản mẫu lưu: Mẫu lưu phải được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng nghiêm ngặt theo đúng chỉ dẫn của nhà sản xuất đối với từng loại sinh vật phẩm cụ thể (thông thường là bảo quản lạnh từ 2°C đến 8°C hoặc đông sâu).
- Niêm phong mẫu lưu: Mẫu lưu phải được đóng gói kín, dán nhãn rõ ràng (ghi rõ tên sản phẩm, số lô, ngày lấy mẫu, người lấy mẫu) và được niêm phong bằng dấu của cơ quan kiểm nghiệm có thẩm quyền.
- Thời gian lưu mẫu: Tiêu chuẩn quy định thời hạn lưu mẫu tối thiểu phải kéo dài hơn hạn sử dụng của sinh vật phẩm đó một khoảng thời gian nhất định (thường là từ 3 đến 6 tháng sau khi sản phẩm hết hạn sử dụng) nhằm phục vụ công tác hậu kiểm khi cần thiết.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
SINH VẬT PHẨM - PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ LƯU MẪU
Biological substances - Methods for sampling and storaging of samples
Lời nói đầu
TCVN 5666:1992 do Trung tâm Quốc gia Kiểm định Sinh vật phẩm biên soạn, Vụ Vệ sinh và Môi trường (Bộ Y tế) đề nghị, Vụ Khoa học và Đào tạo (Bộ Y tế) trình duyệt, Bộ Y tế ban hành;
Tiêu chuẩn này được chuyển đổi năm 2008 từ Tiêu chuẩn Việt Nam cùng số hiệu thành Tiêu chuẩn Quốc gia theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.
SINH VẬT PHẨM - PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ LƯU MẪU
Biological substances - Methods for sampling and storaging of samples
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp lấy mẫu cho các loại sinh vật phẩm sau đây:
- Các loại văcxin làm từ vi khuẩn hoặc virut, dùng để phòng bệnh cho người và gia súc.
- Các loại huyết thanh miễn dịch dùng để phòng và chữa bệnh.
- Các dung dịch dùng để hồi chỉnh các sinh vật phẩm chế tạo dưới dạng đông khô.
- Phải lấy mẫu ở các công đoạn sản xuất, với số lượng đủ tính cách đại diện.
- Các mẫu phải lấy trong điều kiện vô khuẩn bằng những dụng cụ đã vô khuẩn.
Mẫu được lấy trong các giai đoạn sau:
1.2.1 Lấy bán thành phẩm cuối cùng
Lấy ít nhất 6 ml bán thành phẩm cuối cùng để kiểm tra tính vô khuẩn. Trước khi lấy phải lắc kỹ chai hoặc bình chứa bán thành phẩm cuối cùng. Mẫu bán thành phẩm cuối cùng phải cấy thành 3 mẫu (mỗi mẫu không ít hơn 2 ml) theo sơ đồ mô tả ở phần dưới (3.2.1).
1.2.2 Lấy mẫu trong quá trình đóng ống
Để kiểm tra tính vô khuẩn, lấy ít nhất là một mẫu đầu, giữa và cuối quá trình đóng ống. Để kiểm tra có thể lấy mẫu vào các ống nghiệm riêng hoặc vào các chai lọ dùng để đóng sinh phẩm. Đối với quá trình đóng ống mà sau đó sinh phẩm phải đông khô thì phải lấy mẫu gấp 3 lần (không ít hơn 9) và lưu mẫu đến hết thời gian kiểm tra thành phẩm đông khô. Những mẫu này sẽ được kiểm tra lại trong trường hợp thành phần đông khô bị nhiễm.
1.2.3 Lấy mẫu thành phẩm
Cần phải lấy lượng mẫu thành phẩm đảm bảo đại diện cho cả loạt thành phẩm cần kiểm tra. Mẫu lấy kiểm tra phải bao gồm cả mẫu của giai đoạn đầu và cuối của quá trình đóng ống.
Nếu 1 loạt thành phẩm chỉ đựng trong một bình chứa duy nhất, nhưng được đóng làm nhiều lần, thì mẫu lấy của mỗi lần (gọi là một loạt đóng ống) phải là đại diện cho toàn bộ quá trình đóng ống.
Số lượng mẫu cần lấy để kiểm tra do cơ quan Kiểm định Quốc gia quy định.
Công thức số lượng mẫu cần lấy để kiểm tra theo quy định của Tổ chức Y tế Thế giới là 0,4 N. N là số lượng ống, lọ của loạt thành phẩm đó. Đối với loạt thành phẩm có ít hơn 100 ống thì phải lấy 10 % số ống để kiểm tra.
1.2.4 Số lượng lấy mẫu
Mỗi giai đoạn phải l
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
- 1Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6187-1:2009 (ISO 9308 - 1 : 2000) về Chất lượng nước - Phát hiện và đếm Escherichia coli và vi khuẩn coliform - Phần 1: Phương pháp lọc màng
- 2Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 1022:1992 về Sinh vật phẩm - Phương pháp kiểm tra tính vô khuẩn chuyển đổi năm 2008 do Bộ Y tế ban hành
- 3Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5733:1993 về Thịt - Phương pháp phát hiện ký sinh trùng
- 1Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006
- 2Nghị định 127/2007/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật
- 3Quyết định 2918/QĐ-BKHCN năm 2008 công bố tiêu chuẩn quốc gia do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 4Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6187-1:2009 (ISO 9308 - 1 : 2000) về Chất lượng nước - Phát hiện và đếm Escherichia coli và vi khuẩn coliform - Phần 1: Phương pháp lọc màng
- 5Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 1022:1992 về Sinh vật phẩm - Phương pháp kiểm tra tính vô khuẩn chuyển đổi năm 2008 do Bộ Y tế ban hành
- 6Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5733:1993 về Thịt - Phương pháp phát hiện ký sinh trùng
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5666:1992 về Sinh vật phẩm - Phương pháp lấy mẫu và lưu mẫu
- Số hiệu: TCVN5666:1992
- Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
- Ngày ban hành: 01/01/1992
- Nơi ban hành: Bộ Y tế
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/08/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
