Thông tư 17-NL/LN được Bộ Nông Lâm ban hành năm 1959 nhằm hướng dẫn và quản lý thống nhất công tác khai thác rừng trên toàn miền Bắc, bảo đảm phục vụ nhu cầu kiến thiết kinh tế, dân sinh đồng thời bảo vệ và tái tạo tài nguyên rừng.
Văn bản áp dụng đối với tất cả các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, công trường, lâm trường, các tổ chức tập thể và cá nhân có hoạt động khai thác lâm sản hoặc liên quan đến quản lý rừng trên phạm vi cả nước.
Mục đích và nguyên tắc chung trong khai thác rừng (Điều 1)
- Việc khai thác rừng phải tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa khai thác và bảo vệ, nuôi dưỡng, tái sinh rừng, không được khai thác bừa bãi làm cạn kiệt tài nguyên hoặc ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
- Ưu tiên đáp ứng nhu cầu gỗ và lâm sản cho các công trình kiến thiết của Nhà nước, nhu cầu sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp và nhu cầu thiết yếu của nhân dân địa phương.
Phân loại và thẩm quyền quản lý các loại rừng khai thác (Điều 2)
- Xác định rõ ranh giới và quyền sở hữu đối với các khu rừng khai thác, bao gồm rừng quốc doanh, rừng tập thể và các khu vực rừng do địa phương quản lý.
- Mọi hoạt động khai thác tại các khu rừng này đều phải chịu sự giám sát kỹ thuật và quản lý hành chính của cơ quan lâm nghiệp có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương.
Thủ tục cấp phép và điều kiện khai thác lâm sản (Điều 3)
- Các đơn vị, cá nhân muốn khai thác rừng phải lập kế hoạch, thiết kế khai thác và trình cơ quan lâm nghiệp phê duyệt để được cấp giấy phép khai thác theo đúng quy trình kỹ thuật (búa bài cây, thiết kế phân băng, phân khoảnh).
- Nghiêm cấm việc tự ý chặt phá, khai thác lâm sản khi chưa được cấp phép hoặc khai thác vượt quá trữ lượng, sai vị trí, sai chủng loại ghi trong giấy phép.
Trách nhiệm của các bên tham gia khai thác rừng (Điều 4)
- Đơn vị khai thác có trách nhiệm thực hiện đúng quy trình kỹ thuật lâm sinh, dọn dẹp vệ sinh rừng sau khi khai thác để phòng chống cháy rừng và tạo điều kiện cho rừng tái sinh tự nhiên hoặc trồng mới.
- Phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về nộp thuế, phí lâm sản và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước theo quy định hiện hành.
- Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và lực lượng bảo vệ rừng để ngăn chặn các hành vi phá hoại rừng, khai thác lậu trong khu vực được giao quản lý.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 17-NL/LN năm 1959 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Các cơ quan lâm nghiệp địa phương và các ngành có liên quan chịu trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện Thông tư này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NÔNG LÂM | VIỆT |
| Số: 17-NL/LN | Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 1959 |
Cuối năm 1958 chủ trương khai thác toàn diện đã được Thủ tướng phủ thông qua và phổ biến cho các địa phương làm thí điểm. Đó là một chủ trương lâu dài hết sức quan trọng và quyết định trong đường lối quản lý và khai thác rừng theo hướng tiến lên xã hội chủ nghĩa. Trước mắt chỉ có khai thác toàn diện mới có thể đáp ứng nhu cầu về gỗ của Nhà nước và nhân dân. Một số địa phương đã thực hiện khai thác toàn diện: Phú Thọ, Lạng Sơn, Yên Bái, Tuyên Quang, nhưng chưa đặt thành một chủ trường quán triệt toàn bộ công tác khai thác, nơi nào có điều kiện mới làm và nội dung mới chỉ là tận dụng nguyên liệu còn lại sau khi thác gỗ của Nhà nước và nhân dân. Một số địa phương đã thực hiện khai thác toàn diện: Phú Thọ, Lạng Sơn, Yên Bái, Tuyên Quang, nhưng chưa đặt thành một chủ trương quán triệt toàn bộ công tác khai thác, nơi nào có điều kiện mới làm và nội dung mới chỉ là tận dụng nguyên liệu còn lại sau khi khai thác gỗ súc.
Năm nay Bộ đề nghị các địa phương kiên quyết thực hiện chủ trương khai thác toàn diện ít nhất mỗi tỉnh trong phạm vi một hạt, còn các Chi nhánh làm khẩn nhất thiết phải nghiêm chỉnh chấp hành để làm gương mẫu. Đối với các đơn vị bộ đội khai thác tự túc cần đôn đốc và hướng dẫn để họ thực hiện chủ trương này được tốt.
* Nội dung chủ trương khai thác toàn diện
Yêu cầu căn bản của chủ trương khai thác toàn diện là khai thác rừng nhằm mục đích tạo điều kiện cho những rừng tái sinh được tốt, có sản lượng cao. Nội dung có thể tóm tắt trong hai vấn đề chính:
Để thực hiện chủ trương khai thác toàn diện tất nhiên phải giải quyết vấn đề tiêu thụ và giá cả. Mỗi tỉnh cần phải làm gấp báo cáo về Cục Lâm nghiệp khả năng các khu rừng định khai thác năm 1959 có thể lấy được bao nhiêu thiết mộc, hồng sắc, tạp mộc, bao nhiêu gỗ cành ngọn, bao nhiêu để làm than, củi để Cục phân phối và có kế hoạch tiêu thụ. Vấn đề tiêu thụ tuy hiện nay có khó khăn nhưng chúng ta phải tìm thị trường, ở mỗi tỉnh cần đặt vấn đề cung cấp cho nhân dân địa phương. Cục cũng sẽ cố gắng tìm thị trường tiêu thụ. Nhất định chúng ta sẽ tiêu thụ hết vì hiện nay về giá cả Cục sẽ nghiên cứu điều hòa giữa giá gỗ súc và các loại khác. Nhưng chủ yếu là các Ty phải trực tiếp tổ chức sản xuất thí điểm, xây dựng những chỉ tiêu lao động chính xác trên phương châm nhanh, nhiều, tốt, rẻ.
Chúng ta phải tuyệt đối chống xu hướng kinh doanh món gì cũng phải có lãi; phải chấp hành nguyên tắc có món có lãi lớn, có món có lỗ, lấy lãi bù lỗ và toàn bộ kinh doanh sẽ lãi. Khâu chính trong vấn đề lãi lỗ không phải ở giá thị trường, mà là ở chỗ thường xuyên cải tiến dụng cụ, tăng năng suất lao động, tổ chức lao động hợp lý, không lãng phí.
Ngoài ra, một số vấn đề khác như bảo quản gỗ tạp, quy tắc chế biến gỗ, xẻ gỗ để tiêu thụ được dễ dàng cũng đáng được chuẩn bị một cách khẩn trương và sẽ được phổ biến trong quý 2.
Hiện nay trong sự chuyển biến chung của tình hình ở miền Bắc mọi công tác lâm nghiệp đã có nhiều điều kiện để phát triển và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa. Về phương diện khai thác, khai thác toàn diện là một sự cần thiết tất yếu, vì chúng ta có khả năng để thực hiện tốt chủ trương đó. Kinh nghiệm của một số địa phương và kinh nghiệm chỉ đạo thí điểm ở Bắc giang đã cho thấy chủ trương khai thác toàn diện rất phù hợp với quyền lợi của nhân dân và sơn tràng miền rừng và phù hợp với đường lối kinh doanh lâm nghiệp lại bảo đảm cung cấp gỗ và các lâm sản cho Nhà nước và nhân dân, bảo vệ cơ sở khai thác lâu dài cho nhân dân miền có rừng, đó là điểm căn bản. Mặt khác, phải tin rằng việc kiện toàn ngành lâm nghiệp hiện nay là thống nhất Lâm thổ sản và Lâm nghiệp sẽ tạo cho sự nghiệp kinh doanh rừng có nhiều thuận lợi hơn.
Nhận được thông tư này, đề nghị các Khu, Ty nghiên cứu thảo luận kỹ trong các cấp và chuẩn bị mọi vấn đề cần thiết để có thể thi hành bắt đầu từ quý 2 năm nay.
| K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ NÔNG LÂM |
- 1Thông tư 21-NL-LN-TT năm 1956 Quy định tạm thời chế độ sử dụng gỗ do Bộ Nông lâm ban hành
- 2Thông tư 11-TT/NL năm 1958 giải thích và quy định cụ thể chế độ gia dụng lâm sản do Bộ Nông Lâm ban hành.
- 3Nghị định 05-NL-QT-NĐ năm 1956 về việc phân loại rừng, việc khai thác gỗ, củi do Bộ trưởng Bộ Nông Lâm ban hành.
- 4Thông tư 12-TT năm 1957 về kế hoạch lãnh đạo bảo vệ rừng trong khai thác do Bộ Nông lâm ban hành
- 5Nghị định 01-NĐ-LB năm 1956 bổ khuyết Nghị định 08-LB-CN-TC-NĐ và Nghị định 09-LB-CN-TC-NĐ về điều lệ kiểm thu lâm sản do Bộ trưởng Bộ Nông lâm - Bộ trưởng Bộ Tài chính - Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 6Chỉ thị 2-LS/CNR về thực hiện chủ trương mới trong khai thác rừng và thiết kế khai thác cho năm 1992 do Bộ Lâm nghiệp ban hành
- 1Thông tư 21-NL-LN-TT năm 1956 Quy định tạm thời chế độ sử dụng gỗ do Bộ Nông lâm ban hành
- 2Thông tư 11-TT/NL năm 1958 giải thích và quy định cụ thể chế độ gia dụng lâm sản do Bộ Nông Lâm ban hành.
- 3Nghị định 05-NL-QT-NĐ năm 1956 về việc phân loại rừng, việc khai thác gỗ, củi do Bộ trưởng Bộ Nông Lâm ban hành.
- 4Thông tư 12-TT năm 1957 về kế hoạch lãnh đạo bảo vệ rừng trong khai thác do Bộ Nông lâm ban hành
- 5Nghị định 01-NĐ-LB năm 1956 bổ khuyết Nghị định 08-LB-CN-TC-NĐ và Nghị định 09-LB-CN-TC-NĐ về điều lệ kiểm thu lâm sản do Bộ trưởng Bộ Nông lâm - Bộ trưởng Bộ Tài chính - Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 6Chỉ thị 2-LS/CNR về thực hiện chủ trương mới trong khai thác rừng và thiết kế khai thác cho năm 1992 do Bộ Lâm nghiệp ban hành
Thông tư 17-NL/LN năm 1959 về vấn đề khai thác rừng do Bộ Nông Lâm ban hành.
- Số hiệu: 17-NL/LN
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 02/05/1959
- Nơi ban hành: Bộ Nông lâm
- Người ký: Nguyễn Tạo
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 22
- Ngày hiệu lực: 17/05/1959
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
