Quyết định 396-TTg được ban hành năm 1994 bởi Thủ tướng Chính phủ nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý ngoại tệ trong tình hình mới, hướng tới mục tiêu ổn định thị trường tiền tệ và tối ưu hóa việc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Quyết định này áp dụng đối với tất cả các tổ chức, đơn vị kinh tế trong nước, các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các ngân hàng, công ty tài chính được phép kinh doanh ngoại tệ, cùng các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
Quy định về việc gửi và mở tài khoản ngoại tệ (Điều 1)
- Mọi nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu, cung ứng dịch vụ với nước ngoài và các nguồn thu ngoại tệ hợp pháp khác trong nước của các tổ chức, đơn vị đều bắt buộc phải gửi vào tài khoản mở tại các ngân hàng được phép hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Việt Nam.
- Các trường hợp đặc biệt được phép mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh bao gồm:
- Các Ngân hàng và Công ty Tài chính đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước để phục vụ kinh doanh và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
- Các đơn vị thuộc ngành hàng không, hàng hải, bưu điện, bảo hiểm mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài để thực hiện thu, chi tại chỗ và thanh toán bù trừ quốc tế theo thông lệ.
- Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở tài khoản ngoại tệ để vay vốn nước ngoài theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Các đơn vị kinh tế của Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ cho phép đặt trụ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nước ngoài.
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm cấp phép và kiểm tra, giám sát hoạt động của các tài khoản ngoại tệ mở tại nước ngoài này.
Cơ chế sử dụng và bán lại ngoại tệ cho ngân hàng (Điều 2)
- Các tổ chức, đơn vị chỉ được giữ lại một phần ngoại tệ trên tài khoản để phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
- Toàn bộ số ngoại tệ còn lại chưa sử dụng trong quý phải bán lại cho các Ngân hàng hoặc Công ty Tài chính được phép kinh doanh ngoại tệ.
- Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các đơn vị có nguồn thu ngoại tệ lớn để tính toán nhu cầu giữ lại hợp lý theo từng quý, đồng thời xác định mức chênh lệch tỷ giá mua - bán hợp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp, tránh gây thiệt hại khi mua bán ngoại tệ với ngân hàng.
Cấm giao dịch ngoại tệ trực tiếp giữa các tổ chức (Điều 3)
- Nghiêm cấm các tổ chức, đơn vị (ngoại trừ các Ngân hàng và Công ty Tài chính được cấp phép) trực tiếp cho vay, thanh toán, mua bán hoặc chuyển nhượng ngoại tệ cho nhau. Mọi giao dịch liên quan đến ngoại tệ bắt buộc phải thực hiện thông qua các tổ chức tín dụng được phép.
- Ngoại tệ của các đơn vị chủ yếu được dùng để thanh toán nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nước ngoài hoặc trả nợ vay trong và ngoài nước. Việc thanh toán bằng ngoại tệ giữa các đơn vị trong nước chỉ được chấp nhận trong hai trường hợp:
- Thanh toán qua tài khoản ngoại tệ giữa đơn vị ủy thác và đơn vị nhận ủy thác xuất nhập khẩu.
- Thanh toán các chi phí dịch vụ cho các tổ chức làm đại lý cho nước ngoài (như bán vé, cước vận tải hàng không, hàng hải, bảo hiểm, tái bảo hiểm nước ngoài, cước bưu điện quốc tế và thanh toán cho đại lý nước ngoài).
Hạn chế lưu hành ngoại tệ và thúc đẩy sử dụng tiền Việt Nam (Điều 4)
- Nhằm thực hiện mục tiêu chỉ lưu hành tiền Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam, các cửa hàng, đơn vị dịch vụ trước đây được phép thu ngoại tệ trong nước phải chuyển sang thu hoàn toàn bằng tiền Việt Nam (VND).
- Các trường hợp ngoại lệ được tiếp tục thu ngoại tệ trực tiếp từ khách hàng dưới sự cấp phép của Ngân hàng Nhà nước gồm: Cửa hàng bán hàng miễn thuế, các cửa hàng dịch vụ phục vụ khách nước ngoài tại sân bay, hải cảng và các địa điểm khác được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo các tổ chức tín dụng thiết lập mạng lưới bàn đổi tiền rộng khắp tại các khách sạn, trung tâm đô thị lớn để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và du khách đổi ngoại tệ sang tiền Việt Nam.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện (Điều 5 & Điều 6)
- Quyết định 396-TTg chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1994.
- Quyết định này sửa đổi, bổ sung một số nội dung về quản lý ngoại tệ tại Điều 7 và Điều 9 của Nghị định số 161-HĐBT ngày 18-10-1988; Điều 1 Quyết định số 337-HĐBT ngày 25-10-1991; và các điểm 1, 2 của Chỉ thị số 330-CT ngày 13-9-1990. Các quy định khác không trái với Quyết định này vẫn tiếp tục có hiệu lực.
- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 396-TTg | Hà Nội, ngày 04 tháng 8 năm 1994 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC BỔ SUNG, SỬA ĐỔI MỘT SỐ ĐIỂM VỀ QUẢN LÝ NGOẠI TỆ TRONG TÌNH HÌNH MỚI
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ kết luận của Chính phủ tại phiên họp ngày 27 tháng 4 năm 1994 về việc tăng cường một bước công tác quản lý ngoại tệ trong tình hình mới;
Theo đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước,
QUYẾT ĐỊNH
1- Các Ngân hàng và Công ty Tài chính có đủ điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước thì được mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài để kinh doanh và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế phục vụ khách hàng.
2- Các đơn vị thuộc ngành hàng không, hàng hải, bưu điện, bảo hiểm mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài để thực hiện thu, chi tại chỗ và thanh toán bù trừ cho hoạt động của mình theo thông lệ quốc tế.
3- Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở tài khoản ngoại tệ để vay vốn nước ngoài theo quy định tại Luật đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
4- Các đơn vị kinh tế của Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ cho phép đặt trụ sở ở nước ngoài để hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm cấp giấy phép mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài cho từng tổ chức, đơn vị cụ thể nói trên và kiểm tra sự hoạt động của tổ chức, đơn vị trên các tài khoản đó.
Ngân hàng Nhà nước cùng với các tổ chức, đơn vị có thu nhiều ngoại tệ tính toán số ngoại tệ đơn vị cần giữ lại từng quý để sử dụng ngay, làm cơ sở cho việc mua bán ngoại tệ với Ngân hàng, hướng dẫn các ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Tài chính thực hiện việc mua ngoại tệ của các đơn vị để sử dụng cho yêu cầu ngoại tệ chung; đồng thời tính toán, xác định mức chênh lệch giữa tỷ giá ngoại tệ mua vào, bán ra một cách hợp lý, không để các đơn vị bị thiệt do chênh lệch giá bán ngoại tệ cho Ngân hàng và mua lại ngoại tệ của Ngân hàng.
Việc sử dụng ngoại tệ của các tổ chức, đơn vị quy định tại Điều 2 chủ yếu là để thanh toán, chi trả tiền hàng nhập khẩu và dịch vụ với nước ngoài hoặc trả nợ tiền vay cho các chủ nợ ở trong nước, nước ngoài; việc thanh toán với nhau bằng ngoại tệ giữa các đơn vị trong nước chỉ thực hiện đối với các trường hợp sau:
1- Thanh toán qua tài khoản ngoại tệ giữa các đơn vị uỷ thác và nhận uỷ thác xuất nhập khẩu.
2- Thanh toán các chi phí, dịch vụ cho các tổ chức làm đại lý cho nước ngoài như bán vé, cước vận tải hàng không, hàng hải, mua bảo hiểm, tái bảo hiểm nước ngoài, cước phí bưu điện quốc tế, thanh toán cho các đại lý nước ngoài.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức kiểm tra các Ngân hàng, Công ty Tài chính được phép kinh doanh ngoại tệ trong việc tổ chức các bàn đổi tiền rộng khắp ở các khách sạn, trung tâm đô thị lớn và những nơi cần thiết khác để phục vụ những người có ngoại tệ đổi thành tiền Việt Nam một cách dễ dàng, thuận lợi.
Điều 5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1994. Những quy định về quản lý ngoại tệ trong Quyết định này sửa đổi, bổ sung một số điểm trong Điều 7 và Điều 9, chương II Nghị định số 161-HĐBT ngày 18-10-1988; Điều 1 Quyết định số 337-HĐBT ngày 25-10-1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và các điểm 1 và 2 Chỉ thị số 330-CT ngày 13-9-1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Những quy định khác trong các văn bản trên không trái với Quyết định này đều được tiếp tục thực hiện.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn thi hành Quyết định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã Ký) |
- 1Nghị định 161-HĐBT năm 1988 về điều lệ quản lý ngoại hối của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2Chỉ thị 330-CT 1990 về việc tăng cường quản lý ngoại hối do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Quyết định 337-HĐBT năm 1991 về biện pháp quản lý ngoại tệ trong thời gian trước mắt do Hội dồng Bộ trưởng ban hành
- 1Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2Thông tư 12/TT-NH7 năm 1994 hướng dẫn Quyết định 396-TTg 1994 sửa đổi một số điểm về quản lý ngoại tệ trong tình hình mới do Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 3Công văn 38/1998/CV-NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước về việc quản lý số ngoại tệ dự trữ và chưa sử dụng trong ngân hàng
- 4Quyết định 37/1998/QĐ-TTg về một số biện pháp quản lý ngoại tệ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5Công văn 249/1998/CV-NHNN7 của ngân hàng nhà nước về việc thực hiện Quyết định số 37/1998/QĐ-TTg
Quyết định 396-TTg năm 1994 sửa đổi quản lý ngoại tệ trong tình hình mới do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 396-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 04/08/1994
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 19
- Ngày hiệu lực: 01/10/1994
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
