Pháp lệnh Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam năm 1987 được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 02 tháng 11 năm 1987, do Chủ tịch Võ Chí Công ký ban hành, quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và các chế độ, chính sách đối với Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam.
Pháp lệnh áp dụng đối với Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam, các cơ quan Nhà nước, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội và mọi công dân Việt Nam trong việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ an ninh Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Vị trí, vai trò và nguyên tắc hoạt động của Lực lượng An ninh nhân dân- Trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia: Bảo vệ an ninh quốc gia là nhiệm vụ của Nhà nước và của toàn dân. Lực lượng An ninh nhân dân đóng vai trò nòng cốt, có nhiệm vụ đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, chính quyền, các lực lượng vũ trang và nhân dân.
- Cơ chế lãnh đạo và quản lý: Lực lượng An ninh nhân dân là lực lượng vũ trang trọng yếu, tin cậy của Đảng và Nhà nước; đặt dưới sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sự thống lĩnh của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, sự quản lý trực tiếp của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và chịu sự giám sát của nhân dân.
- Nguyên tắc hoạt động: Hoạt động theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Lực lượng An ninh nhân dân phối hợp chặt chẽ với Cảnh sát nhân dân, Quân đội nhân dân, các cơ quan Nhà nước, dựa vào các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội và sức mạnh của toàn dân để thực hiện nhiệm vụ.
- Phòng ngừa và đấu tranh: Thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng trong cán bộ và nhân dân, xây dựng thế trận an ninh liên hoàn vững mạnh, chủ động phòng ngừa và tấn công làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.
- Bảo vệ quyền lợi công dân và an toàn xã hội: Bảo vệ an toàn cuộc sống của nhân dân, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; tôn trọng quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa của nhân dân.
- Bảo vệ mục tiêu trọng điểm: Bảo vệ an toàn cán bộ, an ninh các cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể và tổ chức xã hội; bảo vệ an ninh các đoàn khách quốc tế, cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và người nước ngoài tại Việt Nam.
- Quản lý nhà nước về an ninh: Tổ chức thực hiện bảo vệ bí mật Nhà nước, an ninh biên giới, an ninh các khu vực xung yếu về chính trị, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội và các cơ sở khoa học - kỹ thuật; quản lý an ninh thông tin liên lạc; quản lý quy chế xuất nhập cảnh và quy chế cư trú, làm việc của người nước ngoài tại Việt Nam.
- Hoạt động điều tra: Tiến hành các hoạt động điều tra và đề nghị truy tố người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.
- Hướng dẫn phong trào quần chúng: Tổ chức hướng dẫn các lực lượng vũ trang, cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội và công dân thực hiện nghĩa vụ bảo vệ an ninh, xây dựng cơ quan, đơn vị an toàn, bảo mật phòng gian và xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc.
- Quyền hạn đặc biệt khi làm nhiệm vụ: Được ưu tiên đi lại bằng các phương tiện giao thông công cộng. Trong trường hợp cấp thiết, được sử dụng các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân (kể cả người đang điều hành). Được quyền tạm đình chỉ hoặc đình chỉ các hoạt động có nguy hại đến an ninh quốc gia và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định đó.
- Nguyên tắc tổ chức: Tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, bố trí theo mục tiêu, đối tượng, địa bàn, bảo đảm tính thường xuyên chiến đấu. Tổ chức bộ máy, trang bị phương tiện kỹ thuật chuyên môn và các phương tiện hoạt động khác do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quy định.
- Chế độ phục vụ: Sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp; hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp hoặc chế độ nghĩa vụ. Việc phục vụ trong Lực lượng An ninh nhân dân được coi là làm nghĩa vụ quân sự; chế độ nghĩa vụ áp dụng theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự.
- Tuyển chọn lực lượng: Được ưu tiên tuyển chọn học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và thanh niên thuộc diện nhập ngũ có đủ tiêu chuẩn để đào tạo, bổ sung vào lực lượng.
- Trang phục và phù hiệu: Cờ hiệu, an ninh hiệu, cấp hiệu, phù hiệu kết hợp với cấp hiệu, trang phục, lễ phục và giấy chứng minh của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ do Hội đồng Bộ trưởng quy định.
- Hệ thống cấp bậc hàm: Gồm 5 cấp và 16 bậc: Cấp tướng (Đại tướng, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng); Cấp tá (Đại tá, Trung tá, Thiếu tá); Cấp úy (Đại úy, Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy); Cấp hạ sĩ quan (Thượng sĩ, Trung sĩ, Hạ sĩ); Cấp chiến sĩ (Chiến sĩ bậc 1, Chiến sĩ bậc 2).
- Thời hạn xét thăng cấp bậc hàm sĩ quan: Thiếu úy lên Trung úy (2 năm); Trung úy lên Thượng úy (2 năm); Thượng úy lên Đại úy (3 năm); Đại úy lên Thiếu tá (4 năm); Thiếu tá lên Trung tá (4 năm); Trung tá lên Đại tá (5 năm). Cấp tướng không quy định thời hạn xét thăng cấp bậc hàm.
- Thẩm quyền phong, thăng cấp bậc hàm: Hội đồng Nhà nước phong, thăng cấp bậc hàm Đại tướng, Thượng tướng. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thăng cấp bậc hàm Trung tướng, Thiếu tướng. Bộ trưởng Bộ Nội vụ phong, thăng cấp bậc hàm từ Thiếu úy đến Đại tá. Cấp có thẩm quyền phong, thăng cấp bậc hàm nào thì có quyền tước, giáng cấp bậc hàm đó. Việc thăng hoặc giáng cấp bậc sĩ quan mỗi lần chỉ được thực hiện một bậc (trừ trường hợp đặc biệt).
- Nghĩa vụ của cán bộ, chiến sĩ: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân; nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách, pháp luật, điều lệnh, điều lệ và mệnh lệnh cấp trên; nêu cao tính trung thực, dũng cảm, cảnh giác cách mạng; không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và rèn luyện thể lực.
- Hạn tuổi và chế độ hưu trí: Sĩ quan phục vụ theo hạn tuổi do Hội đồng Bộ trưởng quy định. Sĩ quan chưa hết hạn tuổi nhưng vì lý do sức khỏe và đủ số năm công tác thì được hưởng chế độ hưu trí. Trường hợp đã hết hạn tuổi nhưng có yêu cầu công tác thì tiếp tục phục vụ theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
- Chế độ tiền lương và phụ cấp: Lực lượng chuyên nghiệp được hưởng lương, phụ cấp thâm niên và các phụ cấp khác. Lực lượng nghĩa vụ được hưởng chế độ cung cấp theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.
- Chế độ ưu đãi và khen thưởng: Cán bộ, chiến sĩ có thành tích được tặng thưởng huân chương, huy chương, danh hiệu vinh dự Nhà nước. Nếu bị thương, bị bệnh hoặc hy sinh khi làm nhiệm vụ thì bản thân và gia đình được hưởng các chế độ ưu đãi đặc biệt. Gia đình của cán bộ, chiến sĩ được chính quyền, đoàn thể địa phương chăm sóc về vật chất và tinh thần.
- Kỷ luật và xử lý vi phạm: Cán bộ, chiến sĩ vi phạm Điều lệnh, Điều lệ của Lực lượng An ninh nhân dân thì bị xử lý kỷ luật; nếu phạm tội thì bị truy tố trước Tòa án quân sự.
Pháp lệnh Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam năm 1987 có hiệu lực kể từ ngày ban hành (ngày 02 tháng 11 năm 1987). Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 02 tháng 11 năm 1987 |
Để tăng cường bảo vệ an ninh quốc gia;
Để xây dựng lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam vững mạnh, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
Căn cứ vào Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy về Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam.
Các cơ quan Nhà nước, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội và mỗi công dân Việt Nam đều có nghĩa vụ bảo vệ an ninh của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Lực lượng An ninh nhân dân hoạt động theo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Các lực lượng vũ trang, cơ quan Nhà nước, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội và mỗi công dân có trách nhiệm cộng tác, giúp đỡ lực lượng An ninh nhân dân làm tròn nhiệm vụ.
NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA LƯỢNG LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN VIỆT NAM
TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN VIỆT NAM
Tổ chức bộ máy, trang bị phương tiện kỹ thuật về chuyên môn - nghiệp vụ và các phương tiện hoạt động khác của lực lượng An ninh nhân dân do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quy định.
Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ trong Lực lượng An ninh nhân dân được coi là làm nghĩa vụ quân sự.
Chế độ nghĩa vụ trong Lực lượng An ninh nhân dân áp dụng như chế độ nghĩa vụ quân sự do Luật nghĩa vụ quân sự quy định.
Hệ thống cấp bậc hàm quy định như sau:
Cấp tướng có 4 bậc:
Đại tướng,
Thượng tướng,
Trung tướng,
Thiếu tướng;
Cấp tá có 3 bậc:
Đại tá,
Trung tá,
Thiếu tá;
Cấp uý có 4 bậc:
Đại uý,
Thượng uý,
Trung uý,
Thiếu uý;
Cấp hạ sĩ quan có 3 bậc:
Thượng sĩ,
Trung sĩ,
Hạ sĩ;
Cấp chiến sĩ có 2 bậc:
Chiến sĩ bậc 1,
Chiến sĩ bậc 2.
Thời hạn xét thăng cấp bậc hàm đối với sĩ quan quy định như sau:
Thiếu uý lên trung uý: 2 năm,
Trung uý lên thượng uý: 2 năm,
Thượng uý lên đại uý: 3 năm,
Đại uý lên thiếu tá: 4 năm,
Thiếu tá lên trung tá: 4 năm,
Trung tá lên đại tá: 5 năm. Việc xét thăng bậc hàm cấp tướng không quy định thời hạn.
Quyền phong và thăng cấp bậc hàm trong Lực lượng An ninh nhân dân quy định như sau:
Hội đồng Nhà nước phong, thăng bậc hàm đại tướng, thượng tướng;
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, thăng bậc hàm trung tướng, thiếu tướng;
Bộ trưởng Bộ Nội vụ phong, thăng cấp bậc hàm từ đại tá đến thiếu uý.
Cấp có quyền phong, thăng cấp bậc hàm nào thì được quyền tước, giáng cấp bậc hàm ấy.
Việc thăng hoặc giáng cấp bậc sĩ quan, mỗi lần chỉ được một bậc; trong trường hợp đặc biệt mới được thăng hoặc giáng nhiều bậc.
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA SĨ QUAN, HẠ SĨ QUAN, CHIẾN SĨ AN NINH NHÂN DÂN
Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ An ninh nhân dân có nghĩa vụ:
1- Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng với Nhà nước và nhân dân;
2- Nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệnh, Điều lệ của lực lượng An ninh nhân dân, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên;
3- Nêu cao tính trung thực, dũng cảm, bình tĩnh, linh hoạt, nhạy bén, yêu nghề, mài sắc tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao;
4- Không ngừng học tập nâng cao trình độ chính trị, pháp luật, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, năng lực chuyên môn - nghiệp vụ, thường xuyên trau dồi phẩm chất cách mạng, tính tổ chức kỷ luật và rèn luyện thể lực để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Sĩ quan An ninh nhân dân chưa hết hạn tuổi phục vụ, vì lý do sức khoẻ và nếu có đủ số năm công tác theo quy định của Hội đồng bộ trưởng thì được hưởng chế độ hưu.
Sĩ quan an ninh nhân dân đã hết hạn tuổi phục vụ, khi có yêu cầu công tác, thì tiếp tục phục vụ trong lực lượng An ninh nhân dân, theo quyết định của Bộ trưởng Bộ nội vụ.
Hạ sĩ quan, chiến sĩ An ninh nhân dân phục vụ theo chế độ, nghĩa vụ được hưởng chế độ cung cấp theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
Hà Nội, ngày 02 tháng 11 năm 1987
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Hiến pháp năm 1980
- 2Nghị định 134-HDDBT năm 1988 quy định thời hạn, quyền phong, thăng và giáng cấp bậc hàm đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ an ninh nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Nghị định 135-HĐBT năm 1988 quy định cờ hiệu, an ninh hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, lễ phục và trang phục của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4nghị định 157-HĐBT năm 1988 quy định hạn tuổi phục vụ của Sỹ quan chuyên nghiệp và chuyên môn kỹ thuật trong lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5Nghị định 50-HĐBT năm 1989 quy định chế độ nghĩa vụ phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ trong Lực lượng công an nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 6Quyết định 595/TTg năm 1993 về chế độ đối với quân nhân, công an nhân dân khi xuất ngũ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Pháp lệnh Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam năm 1987 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- Số hiệu: 1-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 02/11/1987
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 4
- Ngày hiệu lực: 14/11/1987
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
