Nghị quyết về giấy bạc Việt Nam do Quốc hội ban hành là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc quản lý, lưu thông và khẳng định chủ quyền tiền tệ của quốc gia. Văn bản tập trung vào việc thiết lập các quy định cơ bản về đồng tiền pháp định của Việt Nam, thể hiện qua phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên từ Điều 1 đến Điều 4.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị quyết hướng tới việc điều chỉnh các hoạt động liên quan đến việc phát hành, lưu hành và quản lý giấy bạc Việt Nam trên toàn lãnh thổ. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân hoạt động tại Việt Nam, có nghĩa vụ chấp hành và sử dụng đồng tiền pháp định trong các giao dịch tài chính, kinh tế và dân sự.
Nội dung cốt lõi của Phần mở đầu và các Điều khoản đầu (Điều 1 - Điều 4)
- Ý nghĩa của phần mở đầu: Khẳng định tầm quan trọng mang tính lịch sử và chủ quyền của việc phát hành giấy bạc Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý tối cao thể hiện sự độc lập, tự chủ về tài chính và tiền tệ của đất nước dưới sự quyết định và giám sát của Quốc hội.
- Xác lập đồng tiền pháp định (Điều 1 đến Điều 4): Quy định các nguyên tắc cơ bản về việc công nhận giấy bạc Việt Nam là phương tiện thanh toán hợp pháp, duy nhất và bắt buộc trên toàn lãnh thổ. Các điều khoản này đặt nền móng cho việc kiểm soát lưu thông tiền tệ, bảo vệ giá trị đồng tiền và thiết lập trật tự an toàn tài chính quốc gia.
- Nguyên tắc quản lý nhà nước: Xác định thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc tổ chức in ấn, phát hành, phân phối và quản lý lưu thông dòng tiền, ngăn ngừa các hành vi phá hoại hoặc làm giả tiền tệ.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Quốc hội thông qua, làm căn cứ pháp lý để các cơ quan quản lý tiền tệ và các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ nhằm ổn định thị trường tài chính.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Hà Nội, ngày 08 tháng 11 năm 1946 |
NGHỊ QUYẾT
Xét rằng hiện nay giấy bạc Việt Nam đã lưu hành ở Trung bộ và đương bắt đầu lưu hành ở Bắc bộ được dân chúng rất hoan nghênh và tín nhiệm,
Sau cùng Quốc hội, toàn thể nhân dân Việt Nam cương quyết ủng hộ Chính phủ, giữ vững chủ quyền Việt Nam bằng cách tiêu dùng giấy bạc Việt Nam.
| Nguyễn Xiển (Đã ký) |
- 1Sắc lệnh số 46 về việc phát hành giấy bạc ở nước Việt Nam do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hòa ban hành
- 2Nghị quyết về giấy bạc 500 đồng do Quốc hội Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- 3Sắc lệnh số 147/SL về việc cho phép phát hành tại Nam bộ và lưu hành trong toàn quốc, các giấy bạc Việt nam loại 1đ, 5đ, 20đ, 50đ và 100đ do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- 4Sắc lệnh số 37/SL về việc cho phép phát hành giấy bạc 200đ do Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ cộng hoà ban hành
- 5Quyết định về việc phát hành các loại giấy bạc và tiền kim khí mới thống nhất lưu hành trong cả nước do Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 1Sắc lệnh số 46 về việc phát hành giấy bạc ở nước Việt Nam do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hòa ban hành
- 2Nghị quyết về giấy bạc 500 đồng do Quốc hội Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- 3Sắc lệnh số 147/SL về việc cho phép phát hành tại Nam bộ và lưu hành trong toàn quốc, các giấy bạc Việt nam loại 1đ, 5đ, 20đ, 50đ và 100đ do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- 4Sắc lệnh số 37/SL về việc cho phép phát hành giấy bạc 200đ do Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ cộng hoà ban hành
- 5Quyết định về việc phát hành các loại giấy bạc và tiền kim khí mới thống nhất lưu hành trong cả nước do Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
Nghị quyết về giấy bạc Việt nam do Quốc hội ban hành
- Số hiệu: Không số
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 08/11/1946
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Xiển
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 23/11/1946
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
