Chương 2 Luật Tình trạng khẩn cấp 2025
Chương II
BAN BỐ, CÔNG BỐ, BÃI BỎ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
Điều 9. Thẩm quyền, trình tự ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, Chủ tịch nước ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.
2. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được, Chủ tịch nước ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.
3. Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được thì đề nghị Chủ tịch nước ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.
4. Tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ khi không còn nguy cơ xảy ra thảm họa hoặc thảm họa đã được ngăn chặn, khắc phục; tình hình quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội đã ổn định.
Điều 10. Nội dung nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước về tình trạng khẩn cấp
1. Nội dung nghị quyết ban bố của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh công bố của Chủ tịch nước về tình trạng khẩn cấp bao gồm:
a) Căn cứ, lý do ban bố, công bố tình trạng khẩn cấp;
b) Địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp;
c) Thời điểm áp dụng tình trạng khẩn cấp;
d) Trách nhiệm tổ chức thi hành.
2. Nội dung nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước bãi bỏ tình trạng khẩn cấp bao gồm:
a) Căn cứ, lý do bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;
b) Địa bàn được bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;
c) Thời điểm bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;
d) Các biện pháp được tiếp tục áp dụng sau khi bãi bỏ tình trạng khẩn cấp (nếu có);
đ) Trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Điều 11. Thông tin về tình trạng khẩn cấp
1. Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, lệnh của Chủ tịch nước công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp phải được thông báo ngay trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp.
2. Việc ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp được thông báo ngay cho các quốc gia thành viên Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.
3. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương công bố thông tin kịp thời, thông suốt, chính xác về tình trạng khẩn cấp đến người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình, tiếp nhận thông tin từ người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp và cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp; bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp.
4. Sử dụng số điện thoại 112 để tiếp nhận, xử lý thông tin tình trạng khẩn cấp về thảm họa trên phạm vi toàn quốc.
5. Trong tình trạng khẩn cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp kiểm soát thông tin cần thiết để ngăn chặn, xử lý thông tin sai sự thật, xuyên tạc, gây hoang mang trong Nhân dân, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Việc kiểm soát thông tin bao gồm các hoạt động sau đây:
a) Kiểm soát, kiểm duyệt việc đưa tin, phát tin, đăng tải, chia sẻ thông tin về tình trạng khẩn cấp trên các phương tiện thông tin đại chúng và không gian mạng; quản lý đặc biệt đối với việc sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc và dịch vụ viễn thông;
b) Thiết lập quy trình cho hoạt động tác nghiệp của phóng viên trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp.
Luật Tình trạng khẩn cấp 2025
- Số hiệu: 104/2025/QH15
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 03/12/2025
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Trần Thanh Mẫn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/07/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
- Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
- Điều 2. Tình trạng khẩn cấp
- Điều 3. Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 4. Áp dụng Luật Tình trạng khẩn cấp và các luật khác có liên quan
- Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 6. Hoạt động tố tụng trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 7. Thời hạn, thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án hành chính, dân sự trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 8. Hợp tác quốc tế về tình trạng khẩn cấp
- Điều 9. Thẩm quyền, trình tự ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp
- Điều 10. Nội dung nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước về tình trạng khẩn cấp
- Điều 11. Thông tin về tình trạng khẩn cấp
- Điều 12. Thẩm quyền áp dụng biện pháp trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 13. Biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa
- Điều 14. Biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
- Điều 15. Biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
- Điều 16. Biện pháp khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 17. Thống kê, đánh giá thiệt hại
- Điều 18. Huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ
- Điều 19. Cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp
- Điều 20. Chính sách hỗ trợ
- Điều 21. Nguồn lực ứng phó, cứu trợ, hỗ trợ trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 22. Đào tạo, huấn luyện, diễn tập về tình trạng khẩn cấp
- Điều 23. Chế độ, chính sách đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 24. Chỉ đạo, chỉ huy trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 25. Điều động lực lượng vũ trang đến địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 26. Thẩm quyền, biện pháp xử lý người bị tạm giữ trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 27. Chỉ huy lực lượng trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 28. Lực lượng phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp
- Điều 29. Trang thiết bị bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp
- Điều 30. Áp dụng pháp luật về sự kiện bất khả kháng
- Điều 31. Biện pháp áp dụng khi bãi bỏ tình trạng khẩn cấp
