Chương 3 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2026
Chương III
TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Điều 23. Trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế
1. Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm sau đây:
a) Xây dựng thông cáo báo chí, tài liệu giới thiệu về văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; biên soạn tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về văn bản;
b) Đăng tải thông cáo báo chí, tài liệu quy định tại điểm a khoản này trên Cổng Pháp luật quốc gia và cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan mình;
c) Cử báo cáo viên pháp luật, người có trình độ chuyên môn thuộc phạm vi quản lý hoặc giới thiệu chuyên gia tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật về văn bản do cơ quan mình chủ trì soạn thảo.
2. Cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế nhân danh Nhà nước và Chính phủ có trách nhiệm xây dựng thông cáo báo chí, biên soạn tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia và cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan mình.
3. Cơ quan đề xuất thỏa thuận quốc tế không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này có trách nhiệm biên soạn, đăng tải tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về thỏa thuận quốc tế trên cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan mình.
4. Chính phủ quy định việc xây dựng thông cáo báo chí, tài liệu giới thiệu về văn bản không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; thời hạn đăng tải thông cáo báo chí, tài liệu giới thiệu về văn bản và tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tại Điều này.
Điều 24. Trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước
1. Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; phân công Bộ, cơ quan ngang Bộ tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các văn bản không do Chính phủ trình hoặc ban hành, không do Thủ tướng Chính phủ ban hành, không do Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo hoặc ban hành và điều ước quốc tế không do Bộ, cơ quan ngang Bộ đề xuất.
2. Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thuộc phạm vi, lĩnh vực phụ trách.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương đối với văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và do mình ban hành; điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ và do địa phương mình ký kết.
4. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về các nội dung thuộc trách nhiệm, phạm vi quản lý của chính quyền địa phương cấp xã hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương.
5. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý; chỉ đạo tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý.
Điều 25. Trách nhiệm của cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, đại biểu Quốc hội
1. Cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 23 của Luật này đối với văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội do mình chủ trì soạn thảo và các thỏa thuận quốc tế do mình ký kết.
Đối với văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội do đại biểu Quốc hội trình thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội phân công Văn phòng Quốc hội, Thường trực Hội đồng Dân tộc hoặc Thường trực Ủy ban của Quốc hội thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 23 của Luật này;
b) Phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ được phân công theo quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này để phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản do mình chủ trì soạn thảo;
c) Hướng dẫn, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý chủ động nghiên cứu, tìm hiểu, học tập pháp luật có liên quan.
2. Đại biểu Quốc hội thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri; tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; lồng ghép trong hoạt động giám sát; hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 26. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước
1. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 23 của Luật này đối với văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội do mình trình, các văn bản do mình ban hành, điều ước quốc tế do mình đề xuất;
b) Phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ được phân công theo quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này để phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản do mình chủ trì soạn thảo, ban hành hoặc liên tịch ban hành và điều ước quốc tế do mình đề xuất;
c) Hướng dẫn, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý chủ động nghiên cứu, tìm hiểu, học tập pháp luật có liên quan.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm chủ trì tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản do mình ban hành; phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ.
Điều 27. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
1. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 23 của Luật này đối với văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội do mình trình, thỏa thuận quốc tế do mình ký kết;
b) Phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ được phân công theo quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này để phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản do mình chủ trì soạn thảo, liên tịch ban hành;
c) Hướng dẫn, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc phạm vi quản lý, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình chủ động nghiên cứu, tìm hiểu, học tập pháp luật có liên quan.
2. Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình; vận động tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia, hỗ trợ hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; vận động Nhân dân chấp hành pháp luật.
3. Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức khác có liên quan để phổ biến, giáo dục pháp luật cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình và Nhân dân theo quy định của Luật này, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật của cơ quan, tổ chức mình.
Điều 28. Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn và căn cứ điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, Hội đồng nhân dân có trách nhiệm sau đây:
a) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành cơ chế bảo đảm nguồn lực, kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương;
b) Hội đồng nhân dân các cấp quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri; tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; lồng ghép trong hoạt động giám sát; hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 29. Trách nhiệm của cơ quan báo chí
1. Chủ động hoặc phối hợp với cơ quan có trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật để phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định tại Điều 12 của Luật này, Luật Báo chí và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Phản ánh các ý kiến, kiến nghị về nội dung, vấn đề dư luận xã hội quan tâm để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Kịp thời đấu tranh, phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc chính sách, pháp luật.
Điều 30. Trách nhiệm của người sử dụng lao động
1. Chủ động, phối hợp với tổ chức công đoàn, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội để phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động thuộc phạm vi quản lý về quyền, nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.
2. Tạo điều kiện cho người lao động tham gia các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật tại doanh nghiệp phù hợp với điều kiện thực tế.
Điều 31. Trách nhiệm của tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về pháp luật; cơ sở đào tạo ngành luật, cơ sở đào tạo và bồi dưỡng chức danh tư pháp và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
1. Tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về pháp luật và tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý, dịch vụ khác có liên quan đến pháp lý có trách nhiệm sau đây:
a) Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp;
b) Phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho thành viên, hội viên của tổ chức mình và Nhân dân.
2. Cơ sở đào tạo ngành luật, cơ sở đào tạo và bồi dưỡng chức danh tư pháp có trách nhiệm sau đây:
a) Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp;
b) Phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho giảng viên, học viên và sinh viên thuộc phạm vi quản lý;
c) Tham gia bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;
d) Tạo điều kiện cho giảng viên, học viên, sinh viên tham gia làm báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật và hoạt động tình nguyện phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gương mẫu chấp hành pháp luật; giáo dục, tạo điều kiện cho thành viên khác tìm hiểu, học tập pháp luật, rèn luyện ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.
4. Cơ quan, tổ chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với quy định của pháp luật.
5. Khuyến khích luật sư, luật gia, tư vấn viên pháp luật, cá nhân khác thuộc các tổ chức quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật; tham gia bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng cho người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Điều 32. Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và cá nhân khác trong lực lượng vũ trang nhân dân
1. Tích cực, chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật, chú trọng pháp luật liên quan đến nhiệm vụ được giao; tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật và gương mẫu chấp hành pháp luật.
2. Chủ động, tích cực lồng ghép việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp; hướng dẫn, giải đáp pháp luật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính và thực hiện nhiệm vụ khác được giao.
3. Phối hợp, hỗ trợ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến lĩnh vực, địa bàn công tác.
4. Tiếp nhận, phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân trong quá trình thực thi công vụ; đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 33. Báo cáo viên pháp luật
1. Báo cáo viên pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân, luật sư, luật gia được lựa chọn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn sau đây:
a) Có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng vững vàng và có uy tín trong công tác;
b) Có khả năng truyền đạt;
c) Có trình độ cử nhân luật trở lên và thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật ít nhất là 02 năm; trường hợp không có trình độ cử nhân luật, nhưng có trình độ cử nhân khác thì phải có thời gian công tác liên quan đến pháp luật ít nhất là 03 năm.
2. Thẩm quyền lựa chọn báo cáo viên pháp luật được quy định như sau:
a) Người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội lựa chọn, công bố danh sách báo cáo viên pháp luật của cơ quan, tổ chức mình.
Người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp về pháp luật, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về pháp luật lựa chọn, công bố danh sách báo cáo viên pháp luật của tổ chức mình trên cơ sở sự đồng ý của cá nhân được lựa chọn;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lựa chọn, công bố danh sách báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh của địa phương mình;
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lựa chọn, công bố danh sách báo cáo viên pháp luật cấp xã của địa phương mình.
3. Báo cáo viên pháp luật có các quyền sau đây:
a) Được cung cấp thông tin; được cơ quan, tổ chức quản lý tạo điều kiện tham gia hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật;
b) Được hưởng thù lao theo quy định của pháp luật;
c) Được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật; trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật.
4. Báo cáo viên pháp luật có các nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật theo phân công của cơ quan, tổ chức lựa chọn mình hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có liên quan; tuân thủ các nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật và quy định khác của pháp luật có liên quan;
b) Báo cáo về hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đã thực hiện với cơ quan, tổ chức lựa chọn mình.
5. Người đứng đầu Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật quy định chi tiết Điều này và biện pháp quản lý, bảo đảm cho hoạt động của báo cáo viên pháp luật.
Điều 34. Tuyên truyền viên pháp luật
1. Tuyên truyền viên pháp luật là người cư trú hoặc làm việc trên địa bàn cấp xã có uy tín, kiến thức, am hiểu về pháp luật, khả năng truyền đạt và được lựa chọn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn cấp xã.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lựa chọn, công bố danh sách tuyên truyền viên pháp luật của địa phương mình trên cơ sở sự đồng ý của cá nhân được lựa chọn.
3. Tuyên truyền viên pháp luật có các quyền quy định tại khoản 3 và các nghĩa vụ quy định tại khoản 4 Điều 33 của Luật này.
4. Người đứng đầu Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật quy định chi tiết Điều này và biện pháp quản lý, bảo đảm cho hoạt động của tuyên truyền viên pháp luật.
Điều 35. Người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật là chuyên gia, người có trình độ chuyên môn phù hợp và am hiểu pháp luật được cơ quan, tổ chức mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật có các quyền quy định tại điểm a và điểm b khoản 3, có nghĩa vụ quy định tại điểm a khoản 4 Điều 33 của Luật này.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2026
- Số hiệu: 12/2026/QH16
- Loại văn bản:
- Ngày ban hành: 23/08/2026
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký:
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/03/2027
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
- Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
- Điều 2. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân trong phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách
- Điều 3. Chính sách của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách
- Điều 4. Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
- Điều 5. Nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách
- Điều 6. Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách
- Điều 7. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật
- Điều 8. Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm
- Điều 10. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật
- Điều 11. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật
- Điều 12. Phổ biến, giáo dục pháp luật trên cổng, trang thông tin điện tử, báo chí, phương tiện thông tin đại chúng
- Điều 13. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng trí tuệ nhân tạo
- Điều 14. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hướng dẫn, giải đáp pháp luật
- Điều 15. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua công tác điều tra, thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, xét xử, thi hành án và hoạt động tổ chức thi hành pháp luật
- Điều 16. Đối tượng đặc thù
- Điều 17. Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù
- Điều 18. Trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù
- Điều 19. Mục đích, nội dung, hình thức giáo dục pháp luật
- Điều 20. Trách nhiệm trong giáo dục pháp luật
- Điều 21. Mục đích, nội dung, hình thức, thời điểm truyền thông chính sách
- Điều 22. Trách nhiệm thực hiện truyền thông chính sách
- Điều 23. Trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế
- Điều 24. Trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước
- Điều 25. Trách nhiệm của cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, đại biểu Quốc hội
- Điều 26. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước
- Điều 27. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
- Điều 28. Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân
- Điều 29. Trách nhiệm của cơ quan báo chí
- Điều 30. Trách nhiệm của người sử dụng lao động
- Điều 31. Trách nhiệm của tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về pháp luật; cơ sở đào tạo ngành luật, cơ sở đào tạo và bồi dưỡng chức danh tư pháp và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
- Điều 32. Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và cá nhân khác trong lực lượng vũ trang nhân dân
- Điều 33. Báo cáo viên pháp luật
- Điều 34. Tuyên truyền viên pháp luật
- Điều 35. Người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật
