Đang tải nội dung, vui lòng chờ giây lát...
Đang tải nội dung, vui lòng chờ giây lát...

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH YÊN BÁI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 243/KH-UBND

Yên Bái, ngày 22 tháng 10 năm 2019

 

KẾ HOẠCH

ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG MỘT SỐ NỘI DUNG KẾ HOẠCH SỐ 109/KH-UBND NGÀY 20/5/2018 CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VỀ PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI VÀ TÌM KIẾM CỨU NẠN GIAI ĐOẠN 2018-2020 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

Thực hiện Quyết định số 649/QĐ-TTg ngày 30/5/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch phòng chống thiên tai quốc gia đến năm 2020.

Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái điều chỉnh, bổ sung một số nội dung của Kế hoạch số 109/KH-UBND ngày 20/5/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh về phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn giai đoạn 2018-2020 trên địa bàn tỉnh, cụ thể như sau:

1. QUAN ĐIỂM

1. Phòng, chống thiên tai là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm.

2. Kế hoạch phòng, chống thiên tai được thực hiện đồng bộ theo 3 giai đoạn: phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả. Nội dung phòng, chống thiên tai phải được lồng ghép trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

3. Chú trọng công tác quản lý rủi ro thiên tai, lấy phòng ngừa là chính; bám sát phương châm “4 tại chỗ”. Thực hiện các giải pháp quản lý tổng hợp, đồng bộ theo hệ thống, liên ngành, ứng dụng khoa học công nghệ kết hợp với kinh nghiệm truyền thống.

4. Kế hoạch phòng chống thiên tai phải kết hợp giữa khôi phục và nâng cấp sau thiên tai với yêu cầu xây dựng lại tốt hơn. Phòng, chống thiên tai phải kết hợp giải pháp công trình và phi công trình; đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai phải kết hợp đa mục tiêu, có trọng tâm, trọng điểm;

5. Sử dụng hiệu quả nguồn lực của nhà nước, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; có cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào phòng chống thiên tai.

II. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Tăng cường quản lý nhà nước về phòng chống thiên tai, nâng cao năng lực, tính chủ động của toàn xã hội trong phòng chống thiên tai, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ công tác phòng chống thiên tai, kết hợp giữa phòng chống thiên tai với phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, giảm thiêu rủi ro thiên tai.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, nâng cấp trang thiết bị về phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.

b) Nâng cao năng lực phòng chống thiên tai, giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân, nhất là đối với hạn hán, rét đậm, rét hại, lũ, lũ quét, sạt lở đất, hoàn lưu sau bão, áp thấp nhiệt đới, sạt lở bờ sông, suối.

c) Thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, thực hiện đồng bộ các hoạt động phòng chống thiên tai gắn với phát triển kinh tế - xã hội và phát triển của các ngành, nâng cao hiệu quả đầu tư.

d) Làm cơ sở để tổ chức thực hiện các hoạt động phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.

III. ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG MỘT SỐ NỘI DUNG KẾ HOẠCH SỐ 109/KH-UBND CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

1. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2, Mục I, Phần I

“ 2. Hiện trạng dân sinh, kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng:

Dân số toàn tỉnh năm 2018 là 815.566 người. Mật độ dân số trung bình là 118 người/km2. Tỉnh Yên Bái có 09 đơn vị hành chính (bao gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 07 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn (157 xã và 23 phường, thị trấn). Trong đó có 02 huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải nằm trong 85 huyện nghèo của cả nước. Toàn tỉnh hiện có 81 xã đặc biệt khó khăn (xã khu vực III) chiếm 45%; 68 xã khu vực II, chiếm 37,8%; 31 xã, phường, thị trấn khu vực I, chiếm 17,2% tổng số xã, phường, thị trấn.

Về phát triển kinh tế: Trong năm 2018, tỉnh đã triển khai tốt các nội dung của Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ, Nghị quyết 35/NQ-HĐND ngày 14/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, Điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung triển khai nhiệm vụ ngay từ đầu năm và chỉ đạo, điều hành các cấp, các ngành tổ chức thực hiện. Kết quả về tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (giá so sánh 2010) đạt 6,31 % (năm 2017 là 6,19%). Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 21,9%; Công nghiệp - Xây dựng 26,24%; Dịch vụ 47,04%; thuế sản phẩm, trừ trợ cấp sản phẩm 4,82%. Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người ước đạt 33,6 triệu đồng, bằng 108,4% kế hoạch năm (kế hoạch là 31 triệu đồng), tăng 13,1% so với năm 2017.

Văn hóa, xã hội được quan tâm, triển khai hiệu quả. Các hoạt động thông tin, tuyên truyền, văn hóa, thể thao diễn ra sôi động, phong phú. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường. Các chế độ chính sách đối với người có công, hộ nghèo, đồng bào vùng đặc biệt khó khăn được quan tâm thực hiện kịp thời, đầy đủ. Đời sống nhân dân ổn định, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác ứng phó, khắc phục hậu quả của thiên tai được tập trung thực hiện kịp thời, quyết liệt và nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức, cá nhân và cả cộng đồng. Công tác cải cách thủ tục hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức, tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được chỉ đạo sát sao.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp có nhiều đổi mới, trong đó đã quan tâm xây dựng và tổ chức triển khai các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, lĩnh vực; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh, ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực trụ cột, các dự án có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội; thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, doanh nghiệp.

Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không phát sinh các vụ việc phức tạp. Lực lượng vũ trang đảm bảo chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm an toàn các khu vực trọng điểm, đảm bảo vũ khí trang bị, lực lượng, phương tiện sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ khi có yêu cầu. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tiếp tục được đẩy mạnh, an ninh vùng dân tộc thiểu số, an ninh trong lĩnh vực tôn giáo được đảm bảo. Công tác bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội đạt kết quả tốt”.

2. Sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Mục I, Phần I

“3. Tình hình thiên tai - thiệt hại

Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra ngày càng thất thường, tần suất của các loại thiên tai xuất hiện nhiều hơn, nhất là bão, ATNĐ, lũ, lũ quét xảy ra không tuân theo quy luật như trước đây và nhịp điệu xu hướng ngày càng tăng phức tạp, khó lường... gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản của Nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống người dân.

Tính từ năm 2014-2018 thiên tai đã làm chết và mất tích 88 người, 87 người bị thương; 444 nhà bị sập đổ trôi hoàn toàn. Ngoài những thiệt hại chính đã nêu trên, trên địa bàn tỉnh Yên Bái còn chịu nhiều thiệt hại khác do thiên tai gây ra. Tổng thiệt hại ước tính khoảng 3.186 tỷ đồng.

Riêng năm 2018 trên địa bàn tỉnh Yên Bái xuất hiện 15 đợt thiên tai (02 đợt rét đậm, rét hại, 11 trận mưa kèm theo giông lốc; 02 trận mưa lũ, lũ quét, sạt lở đất ảnh hưởng hoàn lưu bão số 3, s 4). Thiên tai đã làm cho 22 người chết và mất tích, 25 người bị thương, hư hỏng 5.759 căn nhà; thiệt hại 4.450,75 ha sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp; thiệt hại 584 ha nuôi trồng thủy sản và 3.886,2 m3 lồng cá; 28.491 con gia súc, gia cầm; phá hủy trên nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật và nhiều tuyến đường dẫn đến trung tâm các xã, thôn, bản bị sạt lở nghiêm trọng với tổng khối lượng đất đá đến hàng triệu m3, hư hỏng các công trình cầu cống ngầm tràn thoát nước; 09 công trình thủy điện bị sạt lở và hư hỏng nặng; 253 cột điện bị đổ gẫy ... Ước tổng giá trị thiệt hại 1.020 tỷ đồng”.

3. Sửa đổi, bổ sung Mục III, Phần II:

“1. Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về phòng chống thiên tai

- Rà soát, sửa đổi, bổ sung Quyết định số 32/2016/QĐ-UBND ngày 06/10/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc phê duyệt một số chính sách hỗ trợ khắc phục thiệt hại do thiên tai, bão lũ gây ra trên địa bàn tỉnh Yên Bái, giai đoạn 2016-2020.

- Tham gia ý kiến vào các văn bản quy định về kiểm soát an toàn thiên tai; thông tin, truyền thông trong công tác phòng chống thiên tai tiếp nhận, quản lý, giám sát việc sử dụng các khoản viện trợ khẩn cấp phục vụ phòng chống thiên tai; ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.

2. Tuyên truyền phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức về thiên tai

- Thông qua các phương tiện truyền thông và các cơ quan thông tin đại chúng, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức cho người dân về các loại hình thiên tai thường xảy ra và phương pháp phòng, chống; hiểu biết những rủi ro do thiên tai có thể gây ra cho con người, hoa màu, vật nuôi, nhà cửa, các lĩnh vực kinh tế và cơ sở hạ tầng.

- Đẩy mạnh phổ biến pháp luật, kiến thức phòng, chống thiên tai để nhân dân hiểu đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật, nhận thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi, hình thành ý thức chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống thiên tai trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội.

- Tổ chức đào tạo, đào tạo lại cho cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai; đưa kiến thức phòng, chống thiên tai vào hoạt động ngoại khóa trong các trường phổ thông và Cao đẳng.

- Đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức, ngôn ngữ, phương thức truyền thông để phổ biến kiến thức phòng, chống thiên tai tới cộng đồng phù hợp với từng vùng, từng đối tượng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; sử dụng các phương tiện truyền thông truyền thống, lưu động, mạng xã hội tiếp nhận thông tin phản hồi của người dân.

3. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực chỉ đạo, chỉ huy và đào tạo nguồn nhân lực

- Kiện toàn Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp, các ngành để thống nhất công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn ở mỗi cấp, mỗi ngành. Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn bảo đảm chế độ thông tin, báo cáo kịp thời giữa Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp, các ngành.

- Tổ chức xây dựng và củng cố lực lượng xung kích phòng chống thiên tai ở cấp xã, thôn, bản với nòng cốt là lực lượng dân quân tự vệ, từng bước nâng cao năng lực dân sự trong ứng phó thiên tai tại cơ sở.

- Đào tạo, tập huấn cho lực lượng làm công tác phòng, chống thiên tai. Từng bước đưa nội dung phòng chống thiên tai vào chương trình đào tạo và hoạt động ngoại khóa trong trường học. Diễn tập nâng cao năng lực chỉ đạo, chỉ huy, điều hành, phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng trong phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.

- Triển khai kế hoạch quản lý, đầu tư trang bị bổ sung các phương tiện, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ.

- Tổ chức trực ban nghiêm túc 24/24 giờ để theo dõi, tổ chức thông báo, cảnh báo và tham mưu kịp thời các biện pháp phòng, chống, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.

4. Lập quy hoạch, kế hoạch phòng chống thiên tai, phương án ứng phó thiên tai phù hợp với điều kiện từng vùng

- Rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, phương án phát triển sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp phù hợp với đặc thù thiên tai từng vùng và tác động của biến đổi khí hậu.

- Điều tra cơ bản về thiên tai, các công trình phòng chống thiên tai.

- Rà soát, xây dựng phương án ứng phó lũ lớn trên hệ thống sông Hồng; ứng phó với bão mạnh, siêu bão.

- Kiểm tra việc bảo đảm an toàn cho các hồ chứa nước; thường trực Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh đôn đốc các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị quản lý công trình thủy lợi, công trình thủy điện thường xuyên kiểm tra công trình trước mùa mưa, bão để có kế hoạch sửa chữa kịp thời những công trình, hạng mục công trình hư hỏng, xuống cấp. Lập kế hoạch, phương án cụ thể đảm bảo an toàn tuyệt đối với các hồ chứa thủy lợi, thủy điện.

5. Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng

- Hoàn thiện và thực thi có hiệu quả kế hoạch phòng, chống thiên tai, nhất là đối với cấp xã; thúc đẩy phong trào xây dựng làng, xã an toàn trước thiên tai trong chương trình xây dựng nông thôn mới.

- Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng trong giai đoạn 2018 - 2020.

- Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào các hoạt động tại cộng đồng, các sự kiện văn hóa, biểu diễn văn nghệ của xã, thôn, bản; xây dựng panô, áp phích về phòng ngừa thích nghi, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai trên địa bàn cấp xã.

- Xây dựng hệ thống thông tin cảnh báo thiên tai kết hợp truyền thanh cơ sở, nhà ở cho dân khi phải sơ tán kết hợp nhà văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, biển báo khu vực thiên tai nguy hiểm, công trình phòng, chống thiên tai quy mô nhỏ...

- Hướng dẫn, động viên cộng đồng dân cư tham gia trực tiếp vào xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp xã và kỹ năng lồng ghép các hoạt động phòng, chống thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp xã.

- Tổ chức cho cộng đồng dân cư tham gia đánh giá rủi ro thiên tai thông qua hoạt động vẽ bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai cấp xã, xác định các đối tượng, khu vực có nguy cơ cao chịu rủi ro do thiên tai để chủ động phòng, tránh.

- Thực hiện đào tạo kiến thức về thiên tai và phương pháp phòng, chống trong các trường phổ thông trung học, dạy bơi cho lứa tuổi thanh thiếu niên, tổ chức lớp truyền đạt kỹ năng phòng, chống thiên tai cho các đối tượng dễ bị tổn thương như: Phụ nữ, người già, trẻ em và người khuyết tật.

6. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong phòng chống thiên tai

- Hiện đại hóa công cụ hỗ trợ chỉ đạo điều hành theo thời gian thực đáp ứng yêu cầu ứng phó kịp thời, chính xác, hiệu quả; đẩy nhanh kết nối trực tuyến giữa các cơ quan chỉ đạo, chỉ huy phòng chống thiên tai của tỉnh với địa phương.

- Điều chỉnh thời vụ sản xuất, đổi mới kỹ thuật canh tác, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển giống cây trồng và vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên và diễn biến thiên tai của từng vùng.

7. Đầu tư củng cố cơ sở hạ tầng phòng chống thiên tai

- Tiếp tục xây dựng, củng cố, nâng cấp các công trình đê kè; hồ đập; chống ngập lụt; chống hạn; phòng chống sạt lở bờ sông; phòng chống lũ quét, sạt lở đất; công trình cảnh báo thiên tai theo các Chương trình, đề án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Quản lý, đầu tư, duy tu, đẩy nhanh tiến độ và đảm bảo chất lượng xây dựng các dự án, công trình trọng điểm về phòng, chống ngập lụt, sạt lở, thủy lợi để bảo vệ dân cư và ổn định sản xuất, kinh doanh.

8. Hợp tác quốc tế trong phòng chống thiên tai

Thực hiện hiệu quả việc vận động, tiếp nhận, quản lý và phân phối viện trợ của quốc tế trong việc khắc phục hậu quả thiên tai.

9. Quỹ phòng chống thiên tai

Triển khai xây dựng kế hoạch thu - chi, sử dụng, quyết toán Quỹ Phòng, chống thiên tai bảo đảm hiệu quả, đúng quy định”.

4. Sửa đổi, bổ sung Khoán 2, Mục VII, Phần II

“2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- Thực hiện chức năng, nhiệm vụ là cơ quan thường trực Ban Chỉ huy PCTT-TKCN tỉnh, điều phối các hoạt động PCTT-TKCN trên địa bàn toàn tỉnh.

- Chỉ đạo cho Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy PCTT-TKCN tham mưu cho Ban Chỉ huy PCTT-TKCN thực hiện và triển khai các Văn bản chỉ đạo về công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, đồng thời hoàn thành tốt các nhiệm vụ của Văn phòng.

- Tiếp tục triển khai thực hiện, đồng thời kiểm tra các dự án, công trình gắn với mục tiêu phòng, chống giảm nhẹ thiên tai. Có biện pháp bảo vệ và khắc phục nhanh, hệ thống đê, kè và các công trình thủy lợi bị hư hỏng do thiên tai.

- Thường xuyên kiểm tra và tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, nhằm phát huy tác dụng phòng, chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.

- Theo dõi sát diễn biến thời tiết, điều chỉnh lịch thời vụ trồng lúa từng vùng, tiểu vùng. Xây dựng, triển khai kế hoạch kiện toàn phương án bảo vệ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại khi có thiên tai xảy ra.

- Thực hiện các chương trình, đề án, dự án các hoạt động nâng cao năng lực phòng chống thiên tai, nhất là năng lực cho lực lượng làm công tác tham mưu, chỉ đạo, hỗ trợ ra quyết định phòng chống thiên tai.

- Rà soát, đề xuất điều chỉnh kế hoạch phòng chống thiên tai tỉnh Yên Bái”.

5. Sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Mục VII, Phần II

“3. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh

- Làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy, Chính quyền và Ban Chỉ huy PCTT-TKCN tỉnh trong việc tuyên truyền ý thức phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong cộng đồng.

- Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra đôn đốc các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai, xây dựng, kiện toàn lực lượng tìm kiếm cứu nạn.

- Chủ trì lực lượng vũ trang, phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng phương án và triển khai lực lượng, phương tiện sơ tán, di dời dân để đối phó với các tình huống thiên tai xảy ra trên địa bản; kiểm tra và chuẩn bị các lực lượng gồm Bộ đội thường trực, dự bị động viên, dân quân tự vệ để làm lực lượng xung kích, sẵn sàng cơ động lực lượng ứng cứu khi cần thiết.

- Hàng năm có kế hoạch hỗ trợ các địa phương, đơn vị trong công tác tổ chức tập huấn, diễn tập PCTT-TKCN để các tình huống sát với thực tế, đạt hiệu quả cao.

- Chỉ đạo đơn vị phối hợp với các lực lượng giúp dân khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra.

- Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp của lực lượng tìm kiếm cứu nạn. Tổ chức huấn luyện, diễn tập cứu hộ, cứu nạn trong các tình huống thiên tai, sự cố công trình phòng chống thiên tai để chủ động ứng phó”.

6. Sửa đổi, bổ sung Khoản 8, Mục VII, Phần II

“8. Sở Tài chính

- Chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan cân đối, bố trí dự toán ngân sách tỉnh hàng năm để thực hiện Kế hoạch phòng chống thiên tai tỉnh theo quy định của pháp luật về ngân sách và phòng, chống thiên tai.

- Phối hợp với các ngành liên quan trong cân đối, phân bổ các nguồn kinh phí hợp pháp khác để khắc phục hậu quả thiệt hại khi có thiên tai xảy ra tại các địa phương trên địa bàn tỉnh.

- Hàng năm phụ trách việc cân đối bố trí vốn cho các chương trình, dự án phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai và tìm kiếm cứu nạn. Bố trí dự phòng ngân sách để hỗ trợ các ngành, địa phương nhanh chóng khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra”.

7. Sửa đổi, bổ sung Khoản 9, Mục VII, Phần II

“Sở Kế hoạch và Đầu tư

- Hướng dẫn các địa phương lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển, ngành, kinh tế - xã hội; Chủ trì phối hợp với Sở Tài chính và các sở, ngành liên quan thực hiện việc lồng ghép Kế hoạch phòng chống thiên tai tỉnh Yên Bái vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở thực hiện hàng năm.

- Phối hợp với Sở Tài chính và các ngành chức năng cân đối, bố trí danh mục đầu tư các dự án, công trình liên quan đến PCTT-TKCN trong kế hoạch đầu tư xây dựng hàng năm, lâu dài của tỉnh.

- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tru tiên, cân đối, bố trí vốn để khắc phục các công trình thủy lợi, đê, kè, công trình liên quan đến phòng chống thiên tai và các công trình phúc lợi xã hội khác bị hư hỏng, thiệt hại do thiên tai gây ra”.

8. Sửa đổi, bổ sung Khoản 10, Mục VII, Phần II

“10. Sở Giao thông vận tải

- Xây dựng kế hoạch bảo đảm an toàn giao thông trong mọi tình huống khi có thiên tai xảy ra. Kịp thời xử lý, khắc phục các chướng ngại vật cản trở giao thông do thiên tai gây ra.

- Có Kế hoạch kiểm tra, dự phòng huy động phương tiện vận tải đường bộ, đường thủy, phù hợp với địa bàn tỉnh khi xảy ra thiên tai, để kịp thời đáp ứng yêu cầu di chuyển, sơ tán dân cư đến nơi an toàn.

- Bố trí lực lượng, phương tiện, sẵn sàng tham gia công tác tìm kiếm cứu nạn, di dân... theo phương án chung của tỉnh.

- Đầu tư trang thiết bị, phương tiện, vật tư dự phòng phục vụ công tác ứng cứu và khắc phục sự cố giao thông do thiên tai gây ra”.

9. Sửa đổi, bổ sung Khoản 11, Mục VII, Phần II

“11. Sở Xây dựng

- Rà soát, chỉnh sửa, bổ sung quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị, nông thôn phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội và điều kiện thiên tai từng vùng; quy hoạch hệ thống tiêu thoát nước đô thị đảm bảo chống ngập úng.

- Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương kiểm tra chất lượng các công trình, các công trường đang thi công; kiểm tra, rà soát tiến độ thực hiện của các dự án; chỉ đạo các chủ đầu tư, đơn vị đẩy nhanh tiến độ thi công và có phương án ứng phó kịp thời với tình huống bất lợi khi thiên tai xảy ra, đảm bảo an toàn cho công trình xây dựng; phổ biến hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện pháp chằng, chống nhà cửa để hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra.

- Phối hợp với các ngành chức năng và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố để quy hoạch, di dời những khu vực đông dân cư vùng nguy cơ lũ quét, sạt lở đất đến nơi an toàn”.

10. Sửa đổi, bổ sung Khoản 13, Mục VII, Phần II

“13. Sở Tài nguyên và Môi trường

- Chủ trì thẩm định, tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt các quỹ đất do Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã đề xuất để bố trí xây dựng các khu tái định cư cho nhân dân trong những vùng thường xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất...trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

- Phối hợp với các đơn vị, địa phương liên quan tổ chức ứng phó, khắc phục, xử lý kịp thời các sự cố ô nhiễm môi trường trong vùng xảy ra thiên tai lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt... nhất là hướng dẫn xử lý đảm bảo vệ sinh nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân.

- Rà soát quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch tài nguyên nước và các quy hoạch liên quan đến phòng chống thiên tai. Kiểm soát chặt chẽ việc khai thác cát, sỏi, tài nguyên khoáng sản, nước ngầm không làm tăng nguy cơ sạt lở đất ở vùng núi, sạt lở bờ sông, suối.

- Quản lý khai thác sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên đất, nước, khoáng sản, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường có tính đến ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu, đảm bảo sự phát triển bền vững.

- Tuyên truyền phổ biến nhận thức, hiểu biết, kiến thức về biến đổi khí hậu, thích nghi, sống chung với biến đổi khí hậu trong nhân dân, với trọng tâm là nhân dân sống trong các khu vực nhạy cảm, vùng có nguy cơ bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, vùng thường xuyên bị tác động của lũ ống, lũ quét và sạt lở đất.

- Tăng cường công tác truyền thông, phổ biến Luật Bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân về những vấn đề môi trường bức xúc, những tác động môi trường và ý thức bảo vệ môi trường”.

11. Sửa đổi, bổ sung Khoản 22, Mục VII, Phần II

“22. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố

- Trên cơ sở Kế hoạch của tỉnh các huyện, thị xã, thành phố Yên Bái xây dựng, hoàn thiện Kế hoạch phòng chống thiên tai cấp huyện, xã phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

- Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, chú trọng lực lượng tại cơ sở, cộng đồng theo phương châm “4 tại chỗ”.

- Tổ chức thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nội dung của kế hoạch và các biện pháp phi công trình, công trình phòng chống, giảm nhẹ thiên tai thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý.

- Kiện toàn Ban Chỉ huy PCTT-TKCN của địa phương, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong Ban Chỉ huy phụ trách địa bàn, để thực hiện công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các xã, phường, thị trấn chủ động xây dựng và triển khai phương án PCTT-TKCN trên địa bàn, quản lý theo phương châm “4 tại chỗ”.

- Tổ chức triển khai và thực hiện tốt các văn bản liên quan đến công tác PCTT-TKCN của Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai - Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn và của Ủy ban nhân dân tỉnh.

- Cập nhật, bổ sung hoàn chỉnh các kế hoạch, phương án PCTT-TKCN tại địa phương mình. Chuẩn bị lực lượng, phương tiện, trang thiết bị sẵn sàng để huy động ứng cứu kịp thời khi xảy ra thiên tai, nhằm giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất; tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, diễn tập PCTT-TKCN; tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kỹ năng trong PCTT-TKCN trên địa bàn.

- Thường xuyên kiểm tra các vị trí xung yếu trên địa bàn để đề xuất giải pháp ứng phó, nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho nhà nước và nhân dân.

- Lập kế hoạch đầu tư các công trình nâng cấp phòng, chống sạt lở bờ sông đảm bảo phục vụ sản xuất và an toàn đời sống nhân dân.

- Chủ động xây dựng các phương án di dời, sơ tán dân cư trong trường hợp khẩn cấp (lũ quét, sạt lở đất...) ra khỏi khu vực nguy hiểm. Chủ động rà soát, đề xuất quy hoạch các quỹ đất để bố trí xây dựng các khu tái định cư cho nhân dân trong những vùng thường xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất...

- Hướng dẫn nhân dân các biện pháp chằng, chống nhà cửa, trường học trạm xá để đối phó với thiên tai như: dông, lốc xoáy. Đối với các hộ dân ở địa bàn có nguy cơ bị ảnh hưởng do thiên tai lũ quét, sạt lở đất phải kiên quyết chỉ đạo và tổ chức di dời, sơ tán dân đến nơi an toàn.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trong cộng đồng các biện pháp ứng phó, khắc phục thiên tai, nhằm hạn chế tư tưởng chủ quan, bị động của một số ít cán bộ và nhân dân trong phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.

- Chủ động sử dụng ngân sách địa phương và nguồn kinh phí theo quy định để thực hiện công tác phòng, chống thiên tai và khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra.

- Thực hiện tốt chế độ báo cáo nhanh về thiệt hại do thiên tai gây ra về Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của tỉnh, để tổng hợp báo cáo Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh xem xét chỉ đạo”.

Trên đây là Kế hoạch sửa đổi, bổ sung một số nội dung Kế hoạch số 109/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái. Các nội dung khác không điều chỉnh tại Kế hoạch này tiếp tục thực hiện theo quy định tại Kế hoạch số 109/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái./.

 


Nơi nhận:
- Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống thiên tai;
- Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn;
- Thường trực Tỉnh ủy;
- Hội đồng nhân dân tỉnh;
- Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh;
- Công an tỉnh; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh;
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh;
- Thành viên BCH PCTT và TKCN tỉnh;
- UBND các huyện, thị xã, thành phố;
- Báo Yên Bái, Đài PTTH tỉnh, Cổng TTĐT tỉnh;
- Đài Khí tượng thủy văn Yên Bái;
- Chánh, Phó Chánh Văn phòng (NLN) Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tỉnh,
- Lưu: VT, NLN.

KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Nguyễn Văn Khánh