Phần 3 Hiệp định thực thi điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - GATT (1994)
PHẦN III
1. Các Thành viên đang phát triển không phải là Thành viên ký kết Hiệp định về Thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại ngày 12 tháng 4 năm 1979 có thể trì hoãn việc áp dụng các quy định của Hiệp định này trong thời hạn không quá 5 năm kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực đối với các Thành viên đó. Thành viên đang phát triển khi lựa chọn trì hoãn việc áp dụng Hiệp định này sẽ thông báo hợp lệ với Tổng giám đốc WTO.
2. Ngoài khoản 1 nói trên, các thành viên đang phát triển không phải là thành viên ký kết Hiệp định về Thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại ngày 12 tháng 4 năm 1979 có thể trì hoãn việc áp dụng điểm 2(b)(iii) Điều 1 và Điều 6 trong thời hạn không quá 3 năm sau khi áp dụng tất cả các quy định khác của Hiệp định này. Khi quyết định trì hoãn việc áp dụng các quy định cụ thể trong khoản này các nước thành viên đang phát triển phải thông báo với Tổng giám đốc WTO.
3. Các thành viên phát triển sẽ cung cấp, với các điều kiện do hai bên thoả thuận, trợ giúp kỹ thuật cho các thành viên đang phát triển nếu các nước này yêu cầu. Trên cơ sở đó, các Thành viên phát triển sẽ xây dựng các chương trình trợ giúp kỹ thuật, ngoài các hỗ trợ khác, có thể bao gồm: đào tạo nhân viên, hỗ trợ chuẩn bị các biện pháp thực thi, tiếp cận các nguồn thông tin liên quan đến phương pháp định giá thuế quan, và tư vấn cho việc áp dụng các quy định của Hiệp định này.
Hiệp định thực thi điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - GATT (1994)
- Số hiệu: Khôngsố10
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 30/10/1994
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
- Điều 1. 1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu phải là giá trị giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có điều chỉnh phù hợp với các quy định ở Điều 8, với điều kiện là:
- Điều 2. 1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định tại Điều 1, thì trị giá thuế quan là trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó được định giá.
- Điều 3. 1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định của Điều 1 và Điều 2 thì trị giá thuế quan sẽ là trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó đang được định giá.
- Điều 4. Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định tại Điều 1, Điều 2, và Điều 3, thì phải xác định theo các quy định tại Điều 5, hoặc theo các quy định tại Điều 6 trong trường hợp trị giá thuế quan trên vẫn không thể xác định được theo Điều 5. Trong trường hợp người nhập khẩu có yêu cầu, thứ tự áp dụng Điều 5 và 6 có thể đảo lại.
- Điều 5. 1. (a) Nếu hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa giống hệt hay tương tự nhập khẩu được bán tại nước nhập khẩu theo điều kiện nhập khẩu, thì trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó theo các quy định của Điều này sẽ phải dựa trên giá của đơn vị hàng hóa mà hàng hóa nhập khẩu trên hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự được bán với tổng số lượng lớn nhất, vào cùng hoặc khoảng cùng thời gian nhập khẩu hàng hóa đang được định giá, bán cho người mua không có liên hệ với đến người bán hàng hóa đó, có khấu trừ các chi phí sau đây:
- Điều 6. 1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu theo các quy định của Điều này sẽ dựa trên giá trị tính toán. Giá trị tính toán là tổng của các khoản sau:
- Điều 7. 1. Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định từ Điều 1 đến Điều 6, thì giá trị thuế quan sẽ được xác định thông qua việc sử dụng các phương pháp hợp lý, phù hợp với các nguyên tắc và các quy định chung của Hiệp định này và của Điều VII GATT 1994 và trên cơ sở các dữ liệu sẵn có tại nước nhập khẩu.
- Điều 8. 1. Khi xác định trị giá thuế quan theo các quy định của Điều 1, cần phải tính thêm vào giá thực sự đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu:
- Điều 9. 1. Khi cần chuyển đổi tiền tệ để xác định trị giá thuế quan, thì tỷ giá chuyển đổi được sử dụng phải là tỷ giá do các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có liên quan công bố một cách hợp lệ và phải phản ánh xác thực nhất, trong thời gian hiệu lực của văn bản công bố, giá trị hiện hành của đồng tiền đó trong các giao dịch thương mại tính theo giá trị đồng tiền của nước nhập khẩu.
- Điều 10. Các thông tin mang tính chất bí mật hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật nhằm mục đích định giá thuế quan cần được các cơ quan thẩm quyền có liên quan xử lý như các thông tin tối mật, tuyệt đối không được để lộ ra ngoài mà không được phép cụ thể của cá nhân hoặc chính phủ cung cấp thông tin đó, trừ trường hợp và trong chừng mực thông tin đó được yêu cầu phải tiết lộ trong bối cảnh các thủ tục tư pháp.
- Điều 11. 1. Luật pháp của các nước Thành viên phải đảm bảo quyền kháng cáo liên quan đến các quyết định về trị giá thuế quan của người nhập khẩu hoặc bất kỳ người nào khác chịu trách nhiệm thanh toán thuế nhập khẩu mà không bị trừng phạt.
- Điều 12. Các luật, quy định, quyết định tư pháp và các quyết định hành chính áp dụng chung quy định hiệu lực cho Hiệp định này phải được nước nhập khẩu hữu quan công bố phù hợp với Điều X của GATT 1994.
- Điều 13. Nếu trong quá trình định giá tính thuế hải quan của hàng nhập khẩu, mà thấy cần trì hoãn việc xác định trị giá thuế quan cuối cùng, thì người nhập khẩu hàng hóa đó vẫn có quyền lấy hàng ra khỏi cơ quan hải quan, nếu được yêu cầu thì người nhập khẩu phải đưa ra đầy đủ bảo đảm dưới hình thức bảo lãnh, tiền đặt cọc hoặc các công cụ bảo lãnh thích hợp khác, đảm bảo có thể thanh toán tối đa thuế nhập khẩu mà hàng hóa đó có khả năng phải chịu. Luật pháp của mỗi nước quy định trường hợp nêu trên.
- Điều 14. Các ghi chú tại Phụ lục I của Hiệp định này là một phần không tách rời của Hiệp định, và các quy định của Hiệp định này phải được hiểu và áp dụng cùng với các ghi chú tương ứng. Phụ lục II và III cũng là một phần không tách rời của Hiệp định.
- Điều 15. 1. Trong Hiệp định này:
- Điều 16. Khi có yêu cầu bằng văn bản, nhà nhập khẩu có quyền được cơ quan hải quan nước nhập khẩu trả lời bằng văn bản giải thích về việc cơ quan hải quan đã làm thế nào để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu.
- Điều 17. Không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là nhằm hạn chế hoặc nghi ngờ quyền của cơ quan hải quan trong việc tự chứng minh về tính đúng đắn và tính chính xác của bất kỳ một báo cáo, văn bản hoặc tuyên bố nào đã được đưa ra nhằm mục đích định giá thuế quan.
