Điều 15 Hiệp định thực thi điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - GATT (1994)
1. Trong Hiệp định này:
(a) "trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu" là trị giá của hàng hóa phục vụ cho mục đích đánh thuế nhập khẩu theo trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu;
(b) "nước nhập khẩu" là nước hoặc lãnh thổ hải quan nơi nhập khẩu; và
(c) "được sản xuất" bao gồm được trồng trọt, được chế tạo và được khai mỏ.
2. Trong Hiệp định này:
(a) "hàng hóa giống hệt" là hàng hóa như nhau về mọi phương diện, bao gồm các đặc điểm vật lý, chất lượng, và danh tiếng. Một số khác nhau nhỏ về hình thức bên ngoài không làm cho một hàng hóa, mà về các mặt khác tuân thủ với định nghĩa trên, bị coi không phải là hàng hóa giống hệt;
(b) "hàng hóa tương tự" là hàng hóa mà mặc dù không giống nhau về mọi phương diện nhưng, có các đặc điểm tương tự và vật liệu cấu thành tương tự cho phép chúng thực hiện được cùng chức năng và có khả năng thay thế cho nhau về mặt thương mại. Chất lượng, danh tiếng của hàng hóa và sự hiện hữu của nhãn hiệu thương mại là các yếu tố được cân nhắc khi xác định hàng hóa có phải là tương tự hay không;
(c) các thuật ngữ “hàng hóa giống hệt” và “hàng hóa tương tự” không bao gồm, tuỳ trường hợp cụ thể, hàng hóa có cấu thành hoặc phản ánh lao vụ kỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng, thiết kế, sơ đồ và phác thảo chưa được điều chỉnh theo điểm 1(b)(iv) Điều 8 vì những yếu tố đó được tiến hành tại nước nhập khẩu;
(d) hàng hóa không được coi là “giống hệt” hoặc “tương tự” trừ khi được sản xuất tại cùng một nước như hàng hóa đang được định giá;
(e) hàng hóa do một người khác sản xuất chỉ được xét tới nếu không có hàng hóa giống hệt hoặc tương tự như hàng hóa đang được định giá, tuỳ trường hợp cụ thể, của cùng một người sản xuất.
3. Trong Hiệp định này, “hàng hóa cùng phẩm cấp và chủng loại” là hàng hóa nằm trong một loại hoặc một nhóm hàng do một ngành công nghiệp hoặc một lĩnh vực công nghiệp cụ thể nào đó sản xuất, bao gồm cả các hàng hóa giống hệt hoặc tương tự.
4. Theo Hiệp định này, những người bị coi là có liên hệ chỉ khi:
(a) họ là các viên chức hoặc các giám đốc chéo giữa các doanh nghiệp;
(b) họ đã được pháp luật coi là các đối tác trong cùng doanh nghiệp;
(c) họ là người sử dụng lao động và người lao động;
(d) bất kỳ người nào trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát hoặc nắm từ 5% trở lên cổ phần có quyền biểu quyết đang lưu hành của cả hai doanh nghiệp;
(e) một người trong số họ trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển người kia;
(f) họ cùng bị một người thứ ba trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển; hoặc
(g) họ cùng trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển một người thứ ba;
(h) là thành viên của cùng một gia đình.
5. Những người có quan hệ trong kinh doanh, mà trong đó, một người là đại lý độc quyền, nhà phân phối độc quyền, hoặc người được nhượng quyền độc nhất, sẽ được coi là người có liên hệ theo Hiệp định này, nếu họ thuộc các tiêu chí trong khoản 4.
Hiệp định thực thi điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - GATT (1994)
- Số hiệu: Khôngsố10
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 30/10/1994
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
- Điều 1. 1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu phải là giá trị giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có điều chỉnh phù hợp với các quy định ở Điều 8, với điều kiện là:
- Điều 2. 1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định tại Điều 1, thì trị giá thuế quan là trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó được định giá.
- Điều 3. 1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định của Điều 1 và Điều 2 thì trị giá thuế quan sẽ là trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó đang được định giá.
- Điều 4. Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định tại Điều 1, Điều 2, và Điều 3, thì phải xác định theo các quy định tại Điều 5, hoặc theo các quy định tại Điều 6 trong trường hợp trị giá thuế quan trên vẫn không thể xác định được theo Điều 5. Trong trường hợp người nhập khẩu có yêu cầu, thứ tự áp dụng Điều 5 và 6 có thể đảo lại.
- Điều 5. 1. (a) Nếu hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa giống hệt hay tương tự nhập khẩu được bán tại nước nhập khẩu theo điều kiện nhập khẩu, thì trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó theo các quy định của Điều này sẽ phải dựa trên giá của đơn vị hàng hóa mà hàng hóa nhập khẩu trên hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự được bán với tổng số lượng lớn nhất, vào cùng hoặc khoảng cùng thời gian nhập khẩu hàng hóa đang được định giá, bán cho người mua không có liên hệ với đến người bán hàng hóa đó, có khấu trừ các chi phí sau đây:
- Điều 6. 1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu theo các quy định của Điều này sẽ dựa trên giá trị tính toán. Giá trị tính toán là tổng của các khoản sau:
- Điều 7. 1. Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định từ Điều 1 đến Điều 6, thì giá trị thuế quan sẽ được xác định thông qua việc sử dụng các phương pháp hợp lý, phù hợp với các nguyên tắc và các quy định chung của Hiệp định này và của Điều VII GATT 1994 và trên cơ sở các dữ liệu sẵn có tại nước nhập khẩu.
- Điều 8. 1. Khi xác định trị giá thuế quan theo các quy định của Điều 1, cần phải tính thêm vào giá thực sự đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu:
- Điều 9. 1. Khi cần chuyển đổi tiền tệ để xác định trị giá thuế quan, thì tỷ giá chuyển đổi được sử dụng phải là tỷ giá do các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có liên quan công bố một cách hợp lệ và phải phản ánh xác thực nhất, trong thời gian hiệu lực của văn bản công bố, giá trị hiện hành của đồng tiền đó trong các giao dịch thương mại tính theo giá trị đồng tiền của nước nhập khẩu.
- Điều 10. Các thông tin mang tính chất bí mật hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật nhằm mục đích định giá thuế quan cần được các cơ quan thẩm quyền có liên quan xử lý như các thông tin tối mật, tuyệt đối không được để lộ ra ngoài mà không được phép cụ thể của cá nhân hoặc chính phủ cung cấp thông tin đó, trừ trường hợp và trong chừng mực thông tin đó được yêu cầu phải tiết lộ trong bối cảnh các thủ tục tư pháp.
- Điều 11. 1. Luật pháp của các nước Thành viên phải đảm bảo quyền kháng cáo liên quan đến các quyết định về trị giá thuế quan của người nhập khẩu hoặc bất kỳ người nào khác chịu trách nhiệm thanh toán thuế nhập khẩu mà không bị trừng phạt.
- Điều 12. Các luật, quy định, quyết định tư pháp và các quyết định hành chính áp dụng chung quy định hiệu lực cho Hiệp định này phải được nước nhập khẩu hữu quan công bố phù hợp với Điều X của GATT 1994.
- Điều 13. Nếu trong quá trình định giá tính thuế hải quan của hàng nhập khẩu, mà thấy cần trì hoãn việc xác định trị giá thuế quan cuối cùng, thì người nhập khẩu hàng hóa đó vẫn có quyền lấy hàng ra khỏi cơ quan hải quan, nếu được yêu cầu thì người nhập khẩu phải đưa ra đầy đủ bảo đảm dưới hình thức bảo lãnh, tiền đặt cọc hoặc các công cụ bảo lãnh thích hợp khác, đảm bảo có thể thanh toán tối đa thuế nhập khẩu mà hàng hóa đó có khả năng phải chịu. Luật pháp của mỗi nước quy định trường hợp nêu trên.
- Điều 14. Các ghi chú tại Phụ lục I của Hiệp định này là một phần không tách rời của Hiệp định, và các quy định của Hiệp định này phải được hiểu và áp dụng cùng với các ghi chú tương ứng. Phụ lục II và III cũng là một phần không tách rời của Hiệp định.
- Điều 15. 1. Trong Hiệp định này:
- Điều 16. Khi có yêu cầu bằng văn bản, nhà nhập khẩu có quyền được cơ quan hải quan nước nhập khẩu trả lời bằng văn bản giải thích về việc cơ quan hải quan đã làm thế nào để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu.
- Điều 17. Không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là nhằm hạn chế hoặc nghi ngờ quyền của cơ quan hải quan trong việc tự chứng minh về tính đúng đắn và tính chính xác của bất kỳ một báo cáo, văn bản hoặc tuyên bố nào đã được đưa ra nhằm mục đích định giá thuế quan.
