Phần 2 Hiệp định thực thi điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - GATT (1994)
QUẢN LÝ, THAM VẤN VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
1. Nay thành lập một Uỷ ban về định giá thuế quan (trong Hiệp định này gọi là Uỷ ban) gồm đại diện của mỗi Thành viên. Uỷ ban bầu ra Chủ tịch Uỷ ban và thông thường sẽ họp mỗi năm một lần, hoặc theo các quy định có liên quan của Hiệp định này, nhằm mục đích cho phép các nước thành viên có cơ hội tham vấn về các vấn đề có liên quan đến điều hành hệ thống định giá thuế quan của bất kỳ nước Thành viên nào bởi vì Uỷ ban này có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động của Hiệp định hoặc thúc đẩy các mục đích và thực hiện các nghĩa vụ khác mà các nước Thành viên có thể giao phó. Ban Thư ký WTO sẽ đóng vai trò thư ký của Uỷ ban này.
2. Nay thành lập Uỷ ban kỹ thuật về định giá thuế quan (trong Hiệp định này được gọi là "Uỷ ban kỹ thuật"), hoạt động dưới sự bảo trợ của Hội đồng hợp tác hải quan (trong Hiệp định này gọi tắt là "CCC"). Uỷ ban sẽ thực hiện trách nhiệm được quy định trong Phụ lục II của Hiệp định này và hoạt động theo các quy tắc về thủ tục quy định tại Phụ lục đó.
Tham vấn và giải quyết tranh chấp
1. Trừ trường hợp nêu dưới đây, Bản diễn giải về giải quyết tranh chấp được áp dụng để tham vấn và giải quyết các tranh chấp theo Hiệp định này.
2. Nếu bất kỳ Thành viên nào cho rằng lợi ích mà họ đang hưởng, trực tiếp hoặc gián tiếp, theo Hiệp định này, đang bị vô hiệu hóa hoặc phương hại, hoặc việc đạt được các mục đích của Hiệp định này đang bị cản trở, vì hành động của một Thành viên hoặc các Thành viên khác, thì có thể yêu cầu tham vấn với Thành viên hoặc các Thành viên đó nhằm đạt được giải pháp thoả mãn tất cả các bên liên quan. Các Thành viên cần phải dành sự quan tâm ủng hộ đối với các yêu cầu tham vấn của các Thành viên khác.
3. Khi có yêu cầu, Uỷ ban kỹ thuật sẽ tư vấn và hỗ trợ các Thành viên tham gia các cuộc tham vấn.
4. Theo yêu cầu của một bên trong tranh chấp, hoặc tự mình đề xuất, một ban hội thẩm, được thành lập để xem xét tranh chấp liên quan đến các quy định của Hiệp định này, có thể yêu cầu Uỷ ban Kỹ thuật tiến hành xem xét bất kỳ một vấn đề nào đòi hỏi có sự cân nhắc về mặt kỹ thuật. Ban hội thẩm phải quyết định các điều khoản tham chiếu của Uỷ ban kỹ thuật cho tranh chấp cụ thể đó và đặt ra thời hạn mà Uỷ ban kỹ thuật phải nộp báo cáo. Ban hội thẩm sẽ cân nhắc đến báo cáo này của Uỷ ban kỹ thuật. Trong trường hợp Uỷ ban kỹ thuật không đạt được đồng thuận về một vấn đề đã được chuyển đến cho họ xem xét theo quy định tại khoản này, thì ban hội thẩm cần tạo điều kiện cho các bên tranh chấp có cơ hội để trình bày quan điểm của mình về vấn đề đó trước ban hội thẩm.
5. Các thông tin bí mật được cung cấp cho ban hội thẩm không được phép tiết lộ ra ngoài nếu không có sự cho phép chính thức của cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan hữu trách đã cung cấp các thông tin đó. Trong trường hợp thông tin do ban hội thẩm yêu cầu nhưng ban này không được phép tiết lộ, thì có thể cung cấp bản tóm tắt không mang tính chất bí mật thông tin đó nếu được phép của cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan hữu trách cung cấp thông tin đó.
Hiệp định thực thi điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - GATT (1994)
- Số hiệu: Khôngsố10
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 30/10/1994
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
- Điều 1. 1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu phải là giá trị giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có điều chỉnh phù hợp với các quy định ở Điều 8, với điều kiện là:
- Điều 2. 1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định tại Điều 1, thì trị giá thuế quan là trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó được định giá.
- Điều 3. 1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định của Điều 1 và Điều 2 thì trị giá thuế quan sẽ là trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó đang được định giá.
- Điều 4. Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định tại Điều 1, Điều 2, và Điều 3, thì phải xác định theo các quy định tại Điều 5, hoặc theo các quy định tại Điều 6 trong trường hợp trị giá thuế quan trên vẫn không thể xác định được theo Điều 5. Trong trường hợp người nhập khẩu có yêu cầu, thứ tự áp dụng Điều 5 và 6 có thể đảo lại.
- Điều 5. 1. (a) Nếu hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa giống hệt hay tương tự nhập khẩu được bán tại nước nhập khẩu theo điều kiện nhập khẩu, thì trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó theo các quy định của Điều này sẽ phải dựa trên giá của đơn vị hàng hóa mà hàng hóa nhập khẩu trên hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự được bán với tổng số lượng lớn nhất, vào cùng hoặc khoảng cùng thời gian nhập khẩu hàng hóa đang được định giá, bán cho người mua không có liên hệ với đến người bán hàng hóa đó, có khấu trừ các chi phí sau đây:
- Điều 6. 1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu theo các quy định của Điều này sẽ dựa trên giá trị tính toán. Giá trị tính toán là tổng của các khoản sau:
- Điều 7. 1. Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định từ Điều 1 đến Điều 6, thì giá trị thuế quan sẽ được xác định thông qua việc sử dụng các phương pháp hợp lý, phù hợp với các nguyên tắc và các quy định chung của Hiệp định này và của Điều VII GATT 1994 và trên cơ sở các dữ liệu sẵn có tại nước nhập khẩu.
- Điều 8. 1. Khi xác định trị giá thuế quan theo các quy định của Điều 1, cần phải tính thêm vào giá thực sự đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu:
- Điều 9. 1. Khi cần chuyển đổi tiền tệ để xác định trị giá thuế quan, thì tỷ giá chuyển đổi được sử dụng phải là tỷ giá do các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có liên quan công bố một cách hợp lệ và phải phản ánh xác thực nhất, trong thời gian hiệu lực của văn bản công bố, giá trị hiện hành của đồng tiền đó trong các giao dịch thương mại tính theo giá trị đồng tiền của nước nhập khẩu.
- Điều 10. Các thông tin mang tính chất bí mật hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật nhằm mục đích định giá thuế quan cần được các cơ quan thẩm quyền có liên quan xử lý như các thông tin tối mật, tuyệt đối không được để lộ ra ngoài mà không được phép cụ thể của cá nhân hoặc chính phủ cung cấp thông tin đó, trừ trường hợp và trong chừng mực thông tin đó được yêu cầu phải tiết lộ trong bối cảnh các thủ tục tư pháp.
- Điều 11. 1. Luật pháp của các nước Thành viên phải đảm bảo quyền kháng cáo liên quan đến các quyết định về trị giá thuế quan của người nhập khẩu hoặc bất kỳ người nào khác chịu trách nhiệm thanh toán thuế nhập khẩu mà không bị trừng phạt.
- Điều 12. Các luật, quy định, quyết định tư pháp và các quyết định hành chính áp dụng chung quy định hiệu lực cho Hiệp định này phải được nước nhập khẩu hữu quan công bố phù hợp với Điều X của GATT 1994.
- Điều 13. Nếu trong quá trình định giá tính thuế hải quan của hàng nhập khẩu, mà thấy cần trì hoãn việc xác định trị giá thuế quan cuối cùng, thì người nhập khẩu hàng hóa đó vẫn có quyền lấy hàng ra khỏi cơ quan hải quan, nếu được yêu cầu thì người nhập khẩu phải đưa ra đầy đủ bảo đảm dưới hình thức bảo lãnh, tiền đặt cọc hoặc các công cụ bảo lãnh thích hợp khác, đảm bảo có thể thanh toán tối đa thuế nhập khẩu mà hàng hóa đó có khả năng phải chịu. Luật pháp của mỗi nước quy định trường hợp nêu trên.
- Điều 14. Các ghi chú tại Phụ lục I của Hiệp định này là một phần không tách rời của Hiệp định, và các quy định của Hiệp định này phải được hiểu và áp dụng cùng với các ghi chú tương ứng. Phụ lục II và III cũng là một phần không tách rời của Hiệp định.
- Điều 15. 1. Trong Hiệp định này:
- Điều 16. Khi có yêu cầu bằng văn bản, nhà nhập khẩu có quyền được cơ quan hải quan nước nhập khẩu trả lời bằng văn bản giải thích về việc cơ quan hải quan đã làm thế nào để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu.
- Điều 17. Không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là nhằm hạn chế hoặc nghi ngờ quyền của cơ quan hải quan trong việc tự chứng minh về tính đúng đắn và tính chính xác của bất kỳ một báo cáo, văn bản hoặc tuyên bố nào đã được đưa ra nhằm mục đích định giá thuế quan.
