Phần 1 Hiệp định thực thi điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - GATT (1994)
1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu phải là giá trị giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có điều chỉnh phù hợp với các quy định ở Điều 8, với điều kiện là:
(a) không có sự hạn chế nào trong việc người mua định đoạt hay sử dụng hàng hóa, trừ những hạn chế:
(i) đã được áp dụng hoặc quy định bởi luật pháp hoặc bởi các cơ quan có thẩm quyền tại nước nhập khẩu;
(ii) nhằm giới hạn những khu vực địa lý mà hàng hóa có thể được phép bán lại hoặc:
(iii) không gây ảnh hưởng lớn tới giá trị hàng hóa.
(b) việc mua bán hoặc giá cả không phụ thuộc vào điều kiện hoặc suy xét nào đó khiến không thể xác định được giá trị của hàng hóa đang được định giá.
(c) người bán sẽ không được trực tiếp hoặc gián tiếp hưởng bất kỳ phần nào từ số tiền do người mua thu được qua bán lại, nhượng lại hoặc sử dụng hàng hóa này, trừ một số điều chỉnh hợp lý được phép tại Điều 8 ; và
(d) người mua và người bán không có liên hệ*, hoặc trong trường hợp có liên hệ đó thì giá trị giao dịch chỉ được chấp nhận cho mục đích thuế quan theo các quy định tại khoản 2.
2. (a) Khi quyết định liệu giá trị giao dịch có thể được chấp nhận theo mục đích đã nêu trong khoản 1 nói trên hay không thì việc người mua và người bán có liên hệ trong phạm vi ý nghĩa đã nêu ở Điều 15 tự nó không thể dùng làm căn cứ để bác bỏ việc sử dụng giá trị giao dịch. Trong trường hợp như vậy, các tình huống xung quanh việc mua bán đó sẽ được kiểm tra và giá trị giao dịch sẽ được chấp nhận với với điều kiện sự liên hệ giữa người mua và người bán không ảnh hưởng tới giá cả. Nếu dựa trên các thông tin do nhà nhập khẩu hoặc các nguồn khác cung cấp, cơ quan hải quan có lý do để cho rằng mối liên hệ này ảnh hưởng tới giá cả, thì cơ quan hải quan phải thông báo những lý do này cho người nhập khẩu và người nhập khẩu phải có cơ hội hợp lý để giải trình. Nếu người nhập khẩu yêu cầu, cơ quan hải quan sẽ thông báo bằng văn bản các căn cứ đã áp dụng.
(b) Trong giao dịch mua bán giữa những người có liên hệ, giá trị giao dịch sẽ được chấp nhận và hàng hóa sẽ được định giá theo các quy định tại khoản 1 một khi người nhập khẩu chứng minh được rằng trị giá đó, lấy tại cùng hoặc vào khoảng cùng thời điểm, là rất sát với trị giá trong các trường hợp sau:
(i) trị giá giao dịch của các hàng hóa giống hệt hoặc tương tự được xuất khẩu cho người nhập khẩu không có liên hệ tại nước nhập khẩu;
(ii) trị giá thuế quan của các hàng hóa giống hệt hoặc tương tự được xác định theo các quy định tại Điều 5;
(iii) trị giá thuế quan của các hàng hóa giống hệt hoặc tương tự được xác định theo các quy định tại Điều 6;
Khi áp dụng các phương pháp kiểm tra nói trên, cần phải cân nhắc một cách thích đáng sự chênh lệch về cấp lưu thông, mức số lượng, các yếu tố liệt kê trong Điều 8 và các chi phí mà người bán phải chịu khi bán hàng cho người mua không có liên hệ, nhưng không phát sinh khi người bán bán hàng cho người mua có liên hệ.
(c) Các phương pháp kiểm tra được đề cập tới ở điểm 2(b) sẽ được sử dụng theo đề xuất của người nhập khẩu và chỉ nhằm mục đích so sánh. Các giá trị thay thế có thể sẽ không được xây dựng theo các quy định của điểm 2(b).
1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định tại Điều 1, thì trị giá thuế quan là trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó được định giá.
(b) Khi áp dụng Điều này, trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt, được bán với cùng một cấp lưu thông và về cơ bản cùng một số lượng tại thời điểm hàng hóa đó được định giá, sẽ được sử dụng để xác định trị giá thuế quanKhi không thể tìm được một giao dịch bán hành như trên, thì trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt được bán với cấp lưu thông khác và/hoặc số lượng khác, sau khi đã được điều chỉnh có tính tới sự khác biệt do cấp lưu thông và/hoặc số lượng sinh ra, sẽ được sử dụng, với điều kiện các điều chỉnh này được dựa trên chứng cứ đã đưa ra, chứng minh một cách rõ ràng tính hợp lý và chính xác của sự điều chỉnh, dù sự điều chỉnh này có thể dẫn tới sự tăng hay giảm trị giá.
2. Khi các chi phí và phí quy định tại khoản 2 của Điều 8 được tính vào trị giá giao dịch, thì sự điều chỉnh cần phải tính tới những chênh lệch đáng kể về chi phí và các khoản thu giữa hàng nhập khẩu và hàng hóa giống hệt nó được đề cập tới ở đây do sự khác nhau về khoảng cách và phương thức vận chuyển.
3. Nếu khi áp dụng Điều này mà thấy có nhiều trị giá giao dịch của những hàng hóa giống hệt, thì trị giá thấp nhất sẽ được sử dụng để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó.
1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định của Điều 1 và Điều 2 thì trị giá thuế quan sẽ là trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó đang được định giá.
(b) Khi áp dụng Điều này, trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự, được bán với cùng một cấp lưu thông và về cơ bản cùng một số lượng tại thời điểm hàng hóa đang được định giá, sẽ được sử dụng để xác định trị giá thuế quan. Khi không thể tìm được một thương vụ như trên, thì trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự được bán với cấp lưu thông khác và/hoặc số lượng khác, sau khi đã được điều chỉnh có tính tới sự khác biệt về cấp lưu thông và/hoặc số lượng, sẽ được sử dụng, với điều kiện các điều chỉnh này được dựa trên chứng cứ được đưa ra, chứng minh một cách rõ ràng tính hợp lý và chính xác của sự điều chỉnh, dù sự điều chỉnh này có thể dẫn tới sự tăng hay giảm trị giá.
2. Khi các chi phí và phí nêu tại khoản 2 Điều 8 được tính trong trị giá giao dịch, thì sự điều chỉnh cần phải tính tới những chênh lệch đáng kể về chi phí và các khoản thu giữa hàng nhập khẩu và hàng hóa tương tự được đề cập tới ở đây do sự khác nhau về khoảng cách và phương tiện vận chuyển.
3. Nếu khi áp dụng Điều này mà thấy có nhiều trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự, thì trị giá thấp nhất sẽ được sử dụng để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó.
Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định tại Điều 1, Điều 2, và Điều 3, thì phải xác định theo các quy định tại Điều 5, hoặc theo các quy định tại Điều 6 trong trường hợp trị giá thuế quan trên vẫn không thể xác định được theo Điều 5. Trong trường hợp người nhập khẩu có yêu cầu, thứ tự áp dụng Điều 5 và 6 có thể đảo lại.
1. (a) Nếu hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa giống hệt hay tương tự nhập khẩu được bán tại nước nhập khẩu theo điều kiện nhập khẩu, thì trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó theo các quy định của Điều này sẽ phải dựa trên giá của đơn vị hàng hóa mà hàng hóa nhập khẩu trên hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự được bán với tổng số lượng lớn nhất, vào cùng hoặc khoảng cùng thời gian nhập khẩu hàng hóa đang được định giá, bán cho người mua không có liên hệ với đến người bán hàng hóa đó, có khấu trừ các chi phí sau đây:
(i) tiền hoa hồng thường thanh toán hoặc đồng ý thanh toán hoặc một khoản phụ trội thường tính cho lợi nhuận và các chi phí chung liên quan đến việc bán hàng ở nước nhập khẩu có cùng phẩm cấp và chủng loại;
(ii) các chi phí thông thường để vận chuyển và bảo hiểm hàng hóa cùng các chi phí có liên quan phải chịu ở nước nhập khẩu;
(iii) các chi phí và các khoản thu nói tại khoản 2 Điều 8 khi thấy phù hợp;
(iv) thuế quan và thuế nội địa phải trả tại nước nhập khẩu khi nhập khẩu hoặc bán hàng hóa đó.
(b) Nếu hàng nhập khẩu hoặc hàng giống hệt hay tương tự nhập khẩu đều không được bán vào hoặc vào cùng thời điểm nhập khẩu của hàng hóa đang được định giá, thì trị giá thuế quan sẽ phải tính theo các quy định của điểm 1(a), dựa trên giá cả tính theo đơn vị hàng hóa mà hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa giống hệt hoặc tương tự nhập khẩu được bán tại nước nhập khẩu với những điều kiện được nhập khẩu vào một ngày sớm nhất sau ngày nhập khẩu hàng hóa đang được định giá nhưng trước khi kết thúc thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhập khẩu.
2. Nếu hàng nhập khẩu hoặc hàng giống hệt hay tương tự nhập khẩu đều không được bán tại nước nhập khẩu với những điều kiện như hàng nhập khẩu, thì theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, trị giá quan thuế phải dựa trên giá cả tính theo đơn vị hàng hóa mà hàng nhập khẩu sau khi đã được tiếp tục chế biến thêm, được bán với tổng số lượng lớn nhất cho người mua ở nước nhập khẩu không có quan hệ với những người mà họ đã mua hàng hóa đó, khoản tiền thích đáng đã chi phí cho việc chế biến nhằm gia tăng giá trị và các khoản được phép khấu trừ quy định tại điểm 1(a).
1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu theo các quy định của Điều này sẽ dựa trên giá trị tính toán. Giá trị tính toán là tổng của các khoản sau:
(a) các chi phí hoặc giá trị của nguyên vật liệu và quá trình sản xuất hoặc chế biến được sử dụng trong việc sản xuất ra hàng nhập khẩu đó;
(b) khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với lợi nhuận thường có trong việc bán hàng hóa có cùng phẩm cấp và chủng loại như hàng hóa đang được định giá, do các nhà sản xuất của nước xuất khẩu sản xuất để xuất khẩu sang nước nhập khẩu;
(c) các chi phí hoặc giá trị của các phí tổn cần thiết để phản ánh phương pháp định giá được Thành viên đó lựa chọn theo khoản 2 Điều 8.
2. Không một Thành viên nào được đòi hỏi hoặc ép buộc một người không cư trú trên lãnh thổ của mình phải xuất trình để kiểm tra hoặc cho phép tiếp cận sổ sách hoặc các hồ sơ khác nhằm mục đích xác định giá trị tính toán. Tuy nhiên, các thông tin do nhà sản xuất của hàng hóa đó cung cấp, nhằm mục đích xác định trị giá thuế quan theo các quy định của Điều này, có thể được các cơ quan thẩm quyền của nước nhập khẩu xác minh lại tại một nước khác với sự đồng ý của nhà sản xuất và với điều kiện họ có thông báo trước một thời gian thích đáng cho chính phủ của nước có liên quan và nước này không phản đối việc điều tra.
1. Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định từ Điều 1 đến Điều 6, thì giá trị thuế quan sẽ được xác định thông qua việc sử dụng các phương pháp hợp lý, phù hợp với các nguyên tắc và các quy định chung của Hiệp định này và của Điều VII GATT 1994 và trên cơ sở các dữ liệu sẵn có tại nước nhập khẩu.
2. Không một giá trị thuế quan nào được xác định theo các quy định của Điều này dựa trên cơ sở:
(a) giá bán tại nước nhập khẩu của hàng hóa sản xuất tại nước đó;
(b) một hệ thống cho phép chấp nhận giá trị cao hơn trong hai giá trị lựa chọn vì mục đích thuế quan;
(c) giá hàng hóa trên thị trường nội địa của nước nhập khẩu;
(d) chi phí sản xuất ngoài giá trị tính toán đã được xác định đối với hàng hóa giống hệt hoặc tương tự theo các quy định tại Điều 6;
(e) giá của hàng hóa xuất khẩu sang một nước khác không phải là nước nhập khẩu;
(f) trị giá thuế quan tối thiểu; hoặc
(g) các giá trị tuỳ tiện hoặc không có thực.
3. Nếu nhà nhập khẩu yêu cầu, người nhập khẩu sẽ được thông báo bằng văn bản về trị giá thuế quan được xác định trên cơ sở các quy định của Điều này và phương pháp đã sử dụng để xác định trị giá đó.
1. Khi xác định trị giá thuế quan theo các quy định của Điều 1, cần phải tính thêm vào giá thực sự đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu:
(a) các khoản sau, mà trong chừng mực nào đó người bán đã phải chịu nhưng không bao gồm trong giá đã thực sự thanh toán hoặc phải thanh toán cho lô hàng:
(i) tiền hoa hồng và môi giới, trừ tiền môi giới mua hàng;
(ii) chi phí thùng gửi hàng được coi như chi phí nhằm mục đích thuế quan với hàng hóa được đề cập ở đây;
(iii) các chi phí đóng gói cho lao động hoặc vật liệu;
(b) giá trị, đã phân bổ hợp lý, của các hàng hóa và dịch vụ sau đây mà người bán đã trực tiếp hoặc gián tiếp dành cho người mua không lấy tiền hoặc với giá thấp, để sử dụng trong sản xuất và bán để xuất khẩu các hàng hóa nhập khẩu đó, tới mức độ/phạm vi mà giá trị như vậy chưa được gộp trong giá đã thanh toán hoặc phải thanh toán.
(i) vật liệu, cấu kiện, phụ tùng và các thứ tương tự khác đã nằm trong hàng hóa nhập khẩu đó;
(ii) các dụng cụ, khuôn mẫu và các loại tương tự dùng trong sản xuất hàng nhập khẩu đó;
(iii) vật liệu đã sử dụng trong sản xuất hàng nhập khẩu đó;
(iv) việc lao vụ kỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng, thiết kế, sơ đồ và phác thảo được làm bên ngoài nước nhập khẩu và cần thiết cho việc sản xuất của hàng hóa nhập khẩu.
(c) tiền bản quyền, tiền giấy phép sử dụng bằng sáng chế liên quan đến hàng hóa mà người mua phải trả, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, như là một điều kiện của việc bán hàng hóa đang được định giá, trong chừng mực mà tiền bản quyền, tiền giấy phép sử dụng bằng sáng chế đó không bao gồm trong giá đã thanh toán hoặc phải thanh toán.
(d) giá trị của bất cứ phần nào trong số tiền thu được sau này mà người bán sẽ được hưởng một cách gián tiếp hoặc trực tiếp từ việc: bán lại, nhượng lại, hoặc sử dụng hàng hóa nhập khẩu đó.
2. Khi xây dựng luật pháp quốc gia, các nước Thành viên sẽ quy định việc loại ra hay đưa vào trị giá thuế quan, tất cả hoặc một phần các yếu tố sau:
(a) chi phí vận chuyển hàng hóa nhập khẩu tới cảng hoặc địa điểm nhập khẩu;
(b) chi phí xếp hàng, dỡ hàng và chi phí làm hàng liên quan đến vận chuyển hàng hóa nhập khẩu tới cảng hoặc địa điểm nhập khẩu; và
(c) chi phí bảo hiểm.
3. Các khoản tính thêm vào giá hàng đã thanh toán hoặc phải thanh toán theo Điều này cần phải dựa trên dữ liệu khách quan và có thể định lượng được.
4.Ngoài các khoản đã quy định trong Điều này, khi xác định trị giá thuế quan không được tính thêm các khoản khác vào giá hàng đã thanh toán hoặc phải thanh toán.
1. Khi cần chuyển đổi tiền tệ để xác định trị giá thuế quan, thì tỷ giá chuyển đổi được sử dụng phải là tỷ giá do các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có liên quan công bố một cách hợp lệ và phải phản ánh xác thực nhất, trong thời gian hiệu lực của văn bản công bố, giá trị hiện hành của đồng tiền đó trong các giao dịch thương mại tính theo giá trị đồng tiền của nước nhập khẩu.
2. Tỷ giá chuyển đổi sẽ được sử dụng đó cần phải có hiệu lực vào thời điểm xuất khẩu hoặc thời điểm nhập khẩu mà mỗi nước Thành viên đã quy định.
Các thông tin mang tính chất bí mật hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật nhằm mục đích định giá thuế quan cần được các cơ quan thẩm quyền có liên quan xử lý như các thông tin tối mật, tuyệt đối không được để lộ ra ngoài mà không được phép cụ thể của cá nhân hoặc chính phủ cung cấp thông tin đó, trừ trường hợp và trong chừng mực thông tin đó được yêu cầu phải tiết lộ trong bối cảnh các thủ tục tư pháp.
1. Luật pháp của các nước Thành viên phải đảm bảo quyền kháng cáo liên quan đến các quyết định về trị giá thuế quan của người nhập khẩu hoặc bất kỳ người nào khác chịu trách nhiệm thanh toán thuế nhập khẩu mà không bị trừng phạt.
2. Quyền kháng cáo ban đầu có thể là với nhà chức trách nằm trong cơ quan hải quan hoặc với một tổ chức độc lập mà không bị trừng phạt, nhưng luật pháp của mỗi nước Thành viên đều phải cho phép quyền kháng cáo lên một cơ quan tư pháp mà không bị trừng phạt.
3. Thông báo quyết định giải quyết kháng cáo sẽ được gửi cho người kháng cáo và lý do đi đến quyết định đó phải được thông báo bằng văn bản. Người kháng cáo cũng phải được thông báo về các quyền kháng cáo tiếp theo.
Các luật, quy định, quyết định tư pháp và các quyết định hành chính áp dụng chung quy định hiệu lực cho Hiệp định này phải được nước nhập khẩu hữu quan công bố phù hợp với Điều X của GATT 1994.
Nếu trong quá trình định giá tính thuế hải quan của hàng nhập khẩu, mà thấy cần trì hoãn việc xác định trị giá thuế quan cuối cùng, thì người nhập khẩu hàng hóa đó vẫn có quyền lấy hàng ra khỏi cơ quan hải quan, nếu được yêu cầu thì người nhập khẩu phải đưa ra đầy đủ bảo đảm dưới hình thức bảo lãnh, tiền đặt cọc hoặc các công cụ bảo lãnh thích hợp khác, đảm bảo có thể thanh toán tối đa thuế nhập khẩu mà hàng hóa đó có khả năng phải chịu. Luật pháp của mỗi nước quy định trường hợp nêu trên.
Các ghi chú tại Phụ lục I của Hiệp định này là một phần không tách rời của Hiệp định, và các quy định của Hiệp định này phải được hiểu và áp dụng cùng với các ghi chú tương ứng. Phụ lục II và III cũng là một phần không tách rời của Hiệp định.
1. Trong Hiệp định này:
(a) "trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu" là trị giá của hàng hóa phục vụ cho mục đích đánh thuế nhập khẩu theo trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu;
(b) "nước nhập khẩu" là nước hoặc lãnh thổ hải quan nơi nhập khẩu; và
(c) "được sản xuất" bao gồm được trồng trọt, được chế tạo và được khai mỏ.
2. Trong Hiệp định này:
(a) "hàng hóa giống hệt" là hàng hóa như nhau về mọi phương diện, bao gồm các đặc điểm vật lý, chất lượng, và danh tiếng. Một số khác nhau nhỏ về hình thức bên ngoài không làm cho một hàng hóa, mà về các mặt khác tuân thủ với định nghĩa trên, bị coi không phải là hàng hóa giống hệt;
(b) "hàng hóa tương tự" là hàng hóa mà mặc dù không giống nhau về mọi phương diện nhưng, có các đặc điểm tương tự và vật liệu cấu thành tương tự cho phép chúng thực hiện được cùng chức năng và có khả năng thay thế cho nhau về mặt thương mại. Chất lượng, danh tiếng của hàng hóa và sự hiện hữu của nhãn hiệu thương mại là các yếu tố được cân nhắc khi xác định hàng hóa có phải là tương tự hay không;
(c) các thuật ngữ “hàng hóa giống hệt” và “hàng hóa tương tự” không bao gồm, tuỳ trường hợp cụ thể, hàng hóa có cấu thành hoặc phản ánh lao vụ kỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng, thiết kế, sơ đồ và phác thảo chưa được điều chỉnh theo điểm 1(b)(iv) Điều 8 vì những yếu tố đó được tiến hành tại nước nhập khẩu;
(d) hàng hóa không được coi là “giống hệt” hoặc “tương tự” trừ khi được sản xuất tại cùng một nước như hàng hóa đang được định giá;
(e) hàng hóa do một người khác sản xuất chỉ được xét tới nếu không có hàng hóa giống hệt hoặc tương tự như hàng hóa đang được định giá, tuỳ trường hợp cụ thể, của cùng một người sản xuất.
3. Trong Hiệp định này, “hàng hóa cùng phẩm cấp và chủng loại” là hàng hóa nằm trong một loại hoặc một nhóm hàng do một ngành công nghiệp hoặc một lĩnh vực công nghiệp cụ thể nào đó sản xuất, bao gồm cả các hàng hóa giống hệt hoặc tương tự.
4. Theo Hiệp định này, những người bị coi là có liên hệ chỉ khi:
(a) họ là các viên chức hoặc các giám đốc chéo giữa các doanh nghiệp;
(b) họ đã được pháp luật coi là các đối tác trong cùng doanh nghiệp;
(c) họ là người sử dụng lao động và người lao động;
(d) bất kỳ người nào trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát hoặc nắm từ 5% trở lên cổ phần có quyền biểu quyết đang lưu hành của cả hai doanh nghiệp;
(e) một người trong số họ trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển người kia;
(f) họ cùng bị một người thứ ba trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển; hoặc
(g) họ cùng trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển một người thứ ba;
(h) là thành viên của cùng một gia đình.
5. Những người có quan hệ trong kinh doanh, mà trong đó, một người là đại lý độc quyền, nhà phân phối độc quyền, hoặc người được nhượng quyền độc nhất, sẽ được coi là người có liên hệ theo Hiệp định này, nếu họ thuộc các tiêu chí trong khoản 4.
Khi có yêu cầu bằng văn bản, nhà nhập khẩu có quyền được cơ quan hải quan nước nhập khẩu trả lời bằng văn bản giải thích về việc cơ quan hải quan đã làm thế nào để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu.
Không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là nhằm hạn chế hoặc nghi ngờ quyền của cơ quan hải quan trong việc tự chứng minh về tính đúng đắn và tính chính xác của bất kỳ một báo cáo, văn bản hoặc tuyên bố nào đã được đưa ra nhằm mục đích định giá thuế quan.
Hiệp định thực thi điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - GATT (1994)
- Số hiệu: Khôngsố10
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 30/10/1994
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
- Điều 1. 1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu phải là giá trị giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có điều chỉnh phù hợp với các quy định ở Điều 8, với điều kiện là:
- Điều 2. 1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định tại Điều 1, thì trị giá thuế quan là trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó được định giá.
- Điều 3. 1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định của Điều 1 và Điều 2 thì trị giá thuế quan sẽ là trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó đang được định giá.
- Điều 4. Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định tại Điều 1, Điều 2, và Điều 3, thì phải xác định theo các quy định tại Điều 5, hoặc theo các quy định tại Điều 6 trong trường hợp trị giá thuế quan trên vẫn không thể xác định được theo Điều 5. Trong trường hợp người nhập khẩu có yêu cầu, thứ tự áp dụng Điều 5 và 6 có thể đảo lại.
- Điều 5. 1. (a) Nếu hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa giống hệt hay tương tự nhập khẩu được bán tại nước nhập khẩu theo điều kiện nhập khẩu, thì trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó theo các quy định của Điều này sẽ phải dựa trên giá của đơn vị hàng hóa mà hàng hóa nhập khẩu trên hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự được bán với tổng số lượng lớn nhất, vào cùng hoặc khoảng cùng thời gian nhập khẩu hàng hóa đang được định giá, bán cho người mua không có liên hệ với đến người bán hàng hóa đó, có khấu trừ các chi phí sau đây:
- Điều 6. 1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu theo các quy định của Điều này sẽ dựa trên giá trị tính toán. Giá trị tính toán là tổng của các khoản sau:
- Điều 7. 1. Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định từ Điều 1 đến Điều 6, thì giá trị thuế quan sẽ được xác định thông qua việc sử dụng các phương pháp hợp lý, phù hợp với các nguyên tắc và các quy định chung của Hiệp định này và của Điều VII GATT 1994 và trên cơ sở các dữ liệu sẵn có tại nước nhập khẩu.
- Điều 8. 1. Khi xác định trị giá thuế quan theo các quy định của Điều 1, cần phải tính thêm vào giá thực sự đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu:
- Điều 9. 1. Khi cần chuyển đổi tiền tệ để xác định trị giá thuế quan, thì tỷ giá chuyển đổi được sử dụng phải là tỷ giá do các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có liên quan công bố một cách hợp lệ và phải phản ánh xác thực nhất, trong thời gian hiệu lực của văn bản công bố, giá trị hiện hành của đồng tiền đó trong các giao dịch thương mại tính theo giá trị đồng tiền của nước nhập khẩu.
- Điều 10. Các thông tin mang tính chất bí mật hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật nhằm mục đích định giá thuế quan cần được các cơ quan thẩm quyền có liên quan xử lý như các thông tin tối mật, tuyệt đối không được để lộ ra ngoài mà không được phép cụ thể của cá nhân hoặc chính phủ cung cấp thông tin đó, trừ trường hợp và trong chừng mực thông tin đó được yêu cầu phải tiết lộ trong bối cảnh các thủ tục tư pháp.
- Điều 11. 1. Luật pháp của các nước Thành viên phải đảm bảo quyền kháng cáo liên quan đến các quyết định về trị giá thuế quan của người nhập khẩu hoặc bất kỳ người nào khác chịu trách nhiệm thanh toán thuế nhập khẩu mà không bị trừng phạt.
- Điều 12. Các luật, quy định, quyết định tư pháp và các quyết định hành chính áp dụng chung quy định hiệu lực cho Hiệp định này phải được nước nhập khẩu hữu quan công bố phù hợp với Điều X của GATT 1994.
- Điều 13. Nếu trong quá trình định giá tính thuế hải quan của hàng nhập khẩu, mà thấy cần trì hoãn việc xác định trị giá thuế quan cuối cùng, thì người nhập khẩu hàng hóa đó vẫn có quyền lấy hàng ra khỏi cơ quan hải quan, nếu được yêu cầu thì người nhập khẩu phải đưa ra đầy đủ bảo đảm dưới hình thức bảo lãnh, tiền đặt cọc hoặc các công cụ bảo lãnh thích hợp khác, đảm bảo có thể thanh toán tối đa thuế nhập khẩu mà hàng hóa đó có khả năng phải chịu. Luật pháp của mỗi nước quy định trường hợp nêu trên.
- Điều 14. Các ghi chú tại Phụ lục I của Hiệp định này là một phần không tách rời của Hiệp định, và các quy định của Hiệp định này phải được hiểu và áp dụng cùng với các ghi chú tương ứng. Phụ lục II và III cũng là một phần không tách rời của Hiệp định.
- Điều 15. 1. Trong Hiệp định này:
- Điều 16. Khi có yêu cầu bằng văn bản, nhà nhập khẩu có quyền được cơ quan hải quan nước nhập khẩu trả lời bằng văn bản giải thích về việc cơ quan hải quan đã làm thế nào để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu.
- Điều 17. Không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là nhằm hạn chế hoặc nghi ngờ quyền của cơ quan hải quan trong việc tự chứng minh về tính đúng đắn và tính chính xác của bất kỳ một báo cáo, văn bản hoặc tuyên bố nào đã được đưa ra nhằm mục đích định giá thuế quan.
