Giới thiệu về Công văn số 3379 TCT/TS
Công văn số 3379 TCT/TS được Tổng cục Thuế ban hành ngày 15/10/2004 nhằm hướng dẫn nghiệp vụ và thống nhất thực hiện việc truy thu thuế nhà, đất đối với các trường hợp sử dụng đất nhưng chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý nguồn thu ngân sách từ đất đai tại các địa phương.
Các nội dung trọng tâm và quy định cốt lõi của văn bản:
- Xác định đối tượng và trường hợp bị truy thu thuế nhà đất: Quy định áp dụng đối với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế nhà, đất nhưng chưa kê khai, kê khai thiếu hoặc chưa nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật trong các thời kỳ trước đó.
- Thời hạn truy thu thuế nhà đất: Việc truy thu thuế nhà, đất được thực hiện theo nguyên tắc hồi tố đối với các khoản thuế chưa nộp. Thời hạn truy thu tối đa được áp dụng theo quy định của Pháp lệnh Thuế nhà, đất và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện hành tại thời điểm phát hiện sai phạm (thông thường là truy thu tối đa trong vòng 5 năm trở về trước kể từ ngày phát hiện hành vi trốn thuế hoặc kê khai thiếu).
- Căn cứ và phương pháp tính thuế truy thu: Số thuế nhà, đất truy thu được xác định dựa trên diện tích đất thực tế sử dụng, hạng đất (hoặc vị trí đất) và thuế suất áp dụng tương ứng với từng thời kỳ phát sinh nghĩa vụ thuế. Việc xác định diện tích và hạng đất phải căn cứ vào hồ sơ địa chính hoặc kết quả đo đạc thực tế của cơ quan tài nguyên và môi trường.
- Xử lý hành vi chậm nộp và vi phạm về thuế: Bên cạnh việc truy thu đủ số tiền thuế nhà, đất còn thiếu, cơ quan thuế có trách nhiệm áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính về thuế, bao gồm phạt chậm nộp tính trên số ngày chậm nộp và phạt hành vi trốn thuế, gian lận thuế (nếu có) theo đúng quy định pháp luật tại thời điểm đó.
- Trách nhiệm phối hợp của các cơ quan liên quan: Tổng cục Thuế yêu cầu các Cục Thuế địa phương chủ động phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan tài nguyên và môi trường để xác định chính xác nguồn gốc đất, thời điểm bắt đầu sử dụng đất và đối tượng sử dụng đất thực tế nhằm bảo đảm việc truy thu đúng đối tượng, đúng diện tích và đúng pháp luật.
Ý nghĩa và tác động của văn bản:
Công văn số 3379 TCT/TS giúp chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ cho cán bộ thuế tại cơ sở, hạn chế tối đa sự thất thu ngân sách nhà nước đối với mảng thuế nhà đất. Đồng thời, văn bản cũng nâng cao ý thức chấp hành pháp luật đất đai và nghĩa vụ tài chính của người dân, bảo đảm tính công bằng xã hội giữa những người sử dụng đất.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3379 TCT/TS | Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2004 |
Kính gửi: Cục thuế thành phố Cần Thơ
Trả lời công văn số 159/CT/TH-DT ngày 22/9/2004 của Cục thuế thành phố Cần Thơ hỏi về thời gian truy thu, hoàn trả thuế nhà, đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại Điều 15, Pháp lệnh Thuế nhà, đất quy định:
“Tổ chức, cá nhân có hành vi không kê khai hoặc khai man trốn thuế thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế theo quy định của Pháp lệnh này, còn bị phạt tiền từ 1 đến 3 lần số thuế gian lậu”.
- Tại Điều 23, Pháp lệnh về Thuế nhà, đất quy định:
“Nếu phát hiện và kết luận có sự man khai, trốn thuế, lậu thuế hoặc nhầm lẫn về thuế thì trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày khai man, trốn thuế hoặc nhầm lẫn về thuế, cơ quan Thuế có quyền ra lệnh truy thu hoặc truy hoàn thuế”.
Theo các quy định nêu trên, trường hợp khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho hộ đang sử dụng đất phát hiện diện tích tăng thêm so với diện tích đã kê khai, tính thuế thì cơ quan Thuế phải truy thu số thuế nhà đất tính thiếu và tuỳ theo từng trường hợp cụ thể xác định diện tích tăng thêm do nguyên nhân nào, nếu là hành vi do không kê khai hoặc là cố tình kê khai thấp để trốn thuế thì phải xử lý phạt từ 1 đến 3 lần số thuế tính thiếu của diện tích tăng thêm. Thời hiệu xử lý vi phạm về thuế nhà đất (thực hiện truy thu thuế và phạt) trong trường hợp này là 3 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.
Cục Thuế báo cáo cụ thể việc này với UBND thành phố để xem xét mức độ vi phạm của đối tượng nộp thuế, để xử lý cho phù hợp với tình hình thực tế.
Tổng cục thuế trả lời để Cục Thuế thành phố Cần Thơ biết và thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
- 1Công văn số 1509 TCT/TS của Tổng cục Thuế về thực hiện chính sách thu thuế nhà đất
- 2Công văn số 2189/TCT-TS về truy thu thuế nhà, đất do Tổng Cục Thuế ban hành.
- 3Pháp lệnh Thuế Nhà, Đất năm 1992 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 4Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Thuế Nhà, Đất năm 1994
- 5Công văn 1835/TCT-KK về việc thu thuế nhà đất do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn số 3379 TCT/TS ngày 15/10/2004 của Tổng cục thuế về việc truy thu thuế nhà đất
- Số hiệu: 3379TCT/TS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 15/10/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/10/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
