Giới thiệu chung về Công văn 1213/BTP-BTTP
Công văn 1213/BTP-BTTP do Bộ Tư pháp ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng nhằm thúc đẩy chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, giảm tải áp lực công việc cho các cơ quan hành chính nhà nước (Ủy ban nhân dân các cấp), đồng thời nâng cao tính an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế của người dân và doanh nghiệp. Văn bản tập trung hướng dẫn việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện, cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng tại các địa bàn đã phát triển đủ tổ chức hành nghề công chứng.
Các nội dung cốt lõi của Công văn 1213/BTP-BTTP
- Chủ trương và mục đích của việc chuyển giao thẩm quyền
- Xã hội hóa hoạt động công chứng: Từng bước chuyển giao các dịch vụ công mà Nhà nước không nhất thiết phải thực hiện sang cho các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp có đủ điều kiện gánh vác.
- Nâng cao tính chuyên nghiệp và an toàn pháp lý: Các tổ chức hành nghề công chứng với đội ngũ Công chứng viên được đào tạo bài bản chuyên sâu sẽ kiểm soát tốt hơn tính pháp lý của các hợp đồng, giao dịch, giảm thiểu tranh chấp phát sinh so với việc chứng thực tại UBND cấp xã/huyện vốn mang nặng tính hành chính.
- Giảm tải áp lực hành chính: Giúp UBND cấp xã và cấp huyện tập trung vào công tác quản lý nhà nước chuyên môn, giảm bớt khối lượng công việc sự nghiệp hành chính tư pháp.
- Điều kiện để thực hiện chuyển giao thẩm quyền
- Sự phát triển đầy đủ của tổ chức hành nghề công chứng: Việc chuyển giao chỉ được thực hiện tại các địa bàn cấp huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) đã thành lập và đi vào hoạt động ổn định các Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng, bảo đảm đáp ứng đầy đủ nhu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức.
- Đánh giá thực trạng địa phương: Sở Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khảo sát, đánh giá năng lực đáp ứng của các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn trước khi tham mưu cho UBND cấp tỉnh ra quyết định chuyển giao.
- Phạm vi và đối tượng hợp đồng, giao dịch chuyển giao
- Các giao dịch bắt buộc phải công chứng, chứng thực: Các hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, và các tài sản khác mà pháp luật quy định phải công chứng hoặc chứng thực.
- Các giao dịch theo yêu cầu: Các hợp đồng, giao dịch khác mà pháp luật không bắt buộc nhưng các bên tham gia có thỏa thuận và tự nguyện yêu cầu công chứng để đảm bảo an toàn pháp lý.
- Thẩm quyền của UBND sau chuyển giao: Tại các địa bàn đã thực hiện chuyển giao, UBND cấp xã, cấp huyện sẽ dừng việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch thuộc phạm vi đã chuyển giao, trừ một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật hoặc tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa chưa có tổ chức hành nghề công chứng tiếp cận.
- Trách nhiệm triển khai của các cơ quan liên quan
- Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Là cơ quan đầu mối tham mưu cho UBND cấp tỉnh xây dựng lộ trình, đề án và ban hành Quyết định chuyển giao thẩm quyền phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương. Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng sau khi tiếp nhận thẩm quyền mới.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Xem xét, ban hành Quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi để người dân nắm rõ chủ trương và địa điểm thực hiện giao dịch mới.
- Các tổ chức hành nghề công chứng: Chuẩn bị đầy đủ về cơ sở vật chất, nhân lực, quy trình nghiệp vụ để tiếp nhận và thực hiện tốt nhiệm vụ công chứng các hợp đồng, giao dịch được chuyển giao, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Ý nghĩa thực tiễn và định hướng áp dụng
Công văn 1213/BTP-BTTP đóng vai trò là kim chỉ nam giúp các địa phương thống nhất phương thức và lộ trình chuyển giao thẩm quyền chứng thực. Việc thực hiện nghiêm túc hướng dẫn tại Công văn này góp phần hoàn thiện thể chế bổ trợ tư pháp, tạo môi trường pháp lý an toàn, minh bạch cho các giao dịch dân sự, kinh tế, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống công chứng Việt Nam trong tiến trình cải cách tư pháp.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1213 /BTP-BTTP | Hà Nội, ngày 29 tháng 4 năm 2010 |
Kính gửi: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Cũng trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 978/BTP-HCTP ngày 2/4/2009 gửi các Sở Tư pháp; Công văn số 1939/BTP-BTTP ngày 18/6/2009 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Công văn số 3745/BTP-BTTP ngày 26/10/2009 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn đôn đốc chuyển giao việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng theo tinh thần Luật công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên.
Theo báo cáo tính đến ngày 26/4/2010 đã có: 50 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Quyết định chuyển giao các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân sang cho các tổ chức hành nghề công chứng, 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa có quyết định chuyển giao (có danh sách kèm theo).
Để tiếp tục thực hiện tốt các quy định của Luật công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành, đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng đồng thời tăng cường bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, Bộ Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương những nơi chưa có quyết định chuyển giao cần khẩn trương xem xét, quyết định chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân sang cho tổ chức hành nghề công chứng thực hiện ở những địa bàn cấp huyện mà tổ chức hành nghề công chứng đảm đương được nhiệm vụ này. Đối với những địa phương đã ban hành quyết định chuyển giao ở một số địa bàn cấp huyện thì cần tiếp tục thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương theo quy hoạch và lộ trình hợp lý để tiếp tục xem xét, quyết định chuyển giao ở những địa bàn còn lại.
Để việc chuyển giao được thuận lợi, các địa phương cần tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân địa phương việc chuyển giao là phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước trong cải cách thủ tục hành chính, cải cách tư pháp, phù hợp với chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng theo tinh thần của Luật công chứng đã được Quốc hội thông qua, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và ổn định công tác chứng thực của UBND cấp xã, cấp huyện, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch của người dân, do hoạt động công chứng có đội ngũ công chứng viên được đào tạo bài bản về chuyên môn nghiệp vụ thực hiện, chịu trách nhiệm về tính xác thực, tính hợp pháp không chỉ về hình thức mà cả về nội dung của hợp đồng, giao dịch, giúp ngăn ngừa, rủi ro, tránh các tranh chấp pháp lý phát sinh về sau.
Bộ Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm chỉ đạo, phối hợp thực hiện.
|
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Luật Công chứng 2006
- 2Nghị định 79/2007/NĐ-CP về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký
- 3Thông tư 03/2008/TT-BTP hướng dẫn thi hành Nghị định 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký do Bộ Tư pháp ban hành
- 4Công văn số 1939/BTP-BTTP về việc một số nội dung liên quan đến công chứng do Bộ Tư pháp ban hành
- 5Nghị định 88/2009/NĐ-CP về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- 6Công văn 3745/BTP-BTTP về việc chuyển giao việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng do Bộ Tư pháp ban hành
- 7Công văn 9277/BTP-HCTP năm 2012 hướng dẫn thẩm quyền chứng thực giấy tờ, văn bản song ngữ do Bộ Tư pháp ban hành
- 8Công văn 3851/VPCP-KTN năm 2015 về chuyển giao thẩm quyền chứng thực do Văn phòng Chính phủ ban hành
Công văn 1213/BTP-BTTP chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng do Bộ Tư pháp ban hành
- Số hiệu: 1213/BTP-BTTP
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 29/04/2010
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Nguyễn Đức Chính
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 29/04/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
