Giới thiệu về Công văn số 1939/BTP-BTTP
Công văn số 1939/BTP-BTTP do Bộ Tư pháp ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc, bất cập phát sinh trong hoạt động hành nghề công chứng. Văn bản này tập trung làm rõ các quy định của Luật Công chứng năm 2014 và Bộ luật Dân sự, tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế và thương mại.
1. Quy định về phạm vi địa hạt công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản
- Nguyên tắc chung: Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Quy định này nhằm bảo đảm tính quản lý chặt chẽ đối với biến động đất đai và bất động sản tại địa phương.
- Trường hợp ngoại lệ: Việc công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản không bị giới hạn bởi phạm vi địa hạt nêu trên. Công chứng viên có quyền thực hiện công chứng các văn bản này bất kể bất động sản tọa lạc ở tỉnh, thành phố khác.
- Lưu ý đối với văn bản ủy quyền: Nội dung ủy quyền liên quan đến bất động sản phải được xác định rõ ràng về phạm vi, thời hạn và không được nhằm mục đích che giấu giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trái pháp luật.
2. Hướng dẫn về công chứng hợp đồng ủy quyền và việc ủy quyền lại
- Điều kiện ủy quyền lại: Việc ủy quyền lại chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý bằng văn bản của bên ủy quyền ban đầu hoặc do pháp luật có quy định. Phạm vi ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu.
- Thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền: Khi công chứng hợp đồng ủy quyền, công chứng viên phải kiểm tra kỹ năng lực hành vi dân sự của các bên, tính tự nguyện và tính hợp pháp của nội dung ủy quyền. Trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng, việc công chứng có thể được thực hiện liên kết giữa hai tổ chức hành nghề công chứng khác nhau theo đúng trình tự luật định.
- Ngăn chặn lạm dụng ủy quyền: Bộ Tư pháp yêu cầu các công chứng viên tăng cường kiểm tra, từ chối công chứng các hợp đồng ủy quyền có dấu hiệu giả tạo nhằm trốn thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ hoặc thực hiện các giao dịch bất hợp pháp khác.
3. Quy trình sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng
- Thẩm quyền thực hiện: Việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng phải được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đó đã chấm dứt hoạt động, giải thể hoặc chuyển đổi, công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng sẽ thực hiện.
- Sự thỏa thuận của các bên: Việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, nhất trí bằng văn bản của tất cả các bên tham gia hợp đồng, giao dịch ban đầu.
- Hồ sơ và thủ tục: Người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản gốc văn bản công chứng cũ và các giấy tờ chứng minh lý do sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ để công chứng viên đối chiếu, kiểm tra trước khi thực hiện.
4. Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản và khai nhận di sản
- Xác định người thừa kế: Công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra kỹ lưỡng giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân của người để lại di sản và những người thừa kế. Nghiêm cấm việc bỏ sót người thừa kế hợp pháp theo pháp luật hoặc theo di chúc.
- Niêm yết việc thụ lý công chứng: Việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản phải được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản trong thời hạn 15 ngày để bảo đảm quyền lợi của các bên liên quan và tránh tranh chấp phát sinh.
- Trách nhiệm của người yêu cầu công chứng: Người yêu cầu công chứng phải cam đoan về tính trung thực, đầy đủ của danh sách những người thừa kế và các giấy tờ liên quan. Mọi hành vi gian lận, giả mạo giấy tờ sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
5. Nâng cao trách nhiệm của Công chứng viên và Tổ chức hành nghề công chứng
- Tuân thủ nguyên tắc trực tiếp: Công chứng viên phải trực tiếp chứng kiến việc ký tên, điểm chỉ của người tham gia giao dịch vào văn bản công chứng. Nghiêm cấm việc ký sẵn, ký thay hoặc ký ngoài trụ sở không đúng quy định pháp luật.
- Tăng cường xác minh thông tin: Trong trường hợp có nghi ngờ về tính xác thực của giấy tờ tùy thân, giấy tờ sở hữu tài sản hoặc năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng, công chứng viên phải tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định trước khi thực hiện công chứng.
- Ứng dụng công nghệ thông tin: Khuyến khích các tổ chức hành nghề công chứng tích cực khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng tại địa phương để kiểm tra tình trạng giao dịch của tài sản, ngăn chặn tình trạng một tài sản bị bán hoặc thế chấp nhiều lần.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1939/BTP-BTTP | Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2009 |
Kính gửi: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trong thời gian qua, Luật công chứng (có hiệu lực từ ngày 01/7/2007) đã được các địa phương tích cực triển khai thực hiện và đã dần đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Bộ Tư pháp nhận được ý kiến của một số địa phương phản ánh về một số khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật công chứng. Để thống nhất một số nội dung liên quan đến công chứng trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng và giúp Sở Tư pháp tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng theo tinh thần Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:
1. Về cách hiểu cụm từ "công chứng nhà nước" trong Luật đất đai 2003
Thời gian qua, một số địa phương phản ánh về Bộ Tư pháp : do có cụm từ "công chứng nhà nước" trong Luật đất đai 2003 (từ Điều 126 đến Điều 131) quy định về việc hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của "công chứng nhà nước" hoặc lựa chọn "công chứng nhà nước", vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng, một số cá nhân, tổ chức cho rằng: chỉ có Phòng công chứng mới có thẩm quyền chứng nhận các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, còn Văn phòng công chứng không có thẩm quyền này, do đó một số cơ quan, tổ chức đã không công nhận hợp đồng, giao dịch do công chứng viên của Văn phòng công chứng chứng nhận.Về vấn đề này, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:
Khoản 3 Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 quy định: " trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau".
Luật công chứng 2006 tại Điều 23 quy định hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng là Phòng công chứng và Văn phòng công chứng. Tại các Điều 2, Điều 6, Điều 22 v.v... quy định về: thẩm quyền chứng nhận hợp đồng, giao dịch; giá trị pháp lý của văn bản công chứng; trách nhiệm của công chứng viên v.v...của Phòng công chứng và Văn phòng công chứng là giống nhau. Phòng công chứng và Văn phòng công chứng chỉ là hình thức tổ chức hành nghề công chứng.
Căn cứ các quy định nêu trên, thì Phòng công chứng và Văn phòng công chứng đều có thẩm quyền chứng nhận các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất theo quy định. Các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất do công chứng viên của Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng nhận đều có giá trị pháp lý như nhau theo quy định của Luật công chứng.
2. Về việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng
Thực hiện điểm 8 Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, thời gian qua nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thực hiện việc chuyển giao các hợp đồng, giao dịch từ Uỷ ban nhân dân cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa chuyển giao, thì Sở Tư pháp cần tham mưu cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc ban hành Quyết định chuyển giao các hợp đồng, giao dịch từ Uỷ ban nhân dân cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện theo đúng tinh thần điểm 8 Thông tư 03/2008/TT-BTP để tăng cường đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức.
Trong quá trình thực hiện, nếu có gì khó khăn vướng mắc đề nghị các cơ quan, tổ chức phản ánh kịp thời về Bộ Tư pháp để xem xét giải quyết.
| Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Luật Công chứng 2006
- 2Bộ luật Dân sự 1995
- 3Luật Đất đai 2003
- 4Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
- 5Thông tư 03/2008/TT-BTP hướng dẫn thi hành Nghị định 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký do Bộ Tư pháp ban hành
- 6Công văn 3680/BTP-BTTP về chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang tổ chức hành nghề công chứng do Bộ Tư pháp ban hành
Công văn số 1939/BTP-BTTP về việc một số nội dung liên quan đến công chứng do Bộ Tư pháp ban hành
- Số hiệu: 1939/BTP-BTTP
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 18/06/2009
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Nguyễn Đức Chính
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 18/06/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
