Ngày 10 tháng 12 năm 2001, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư 21/2001/TT-BGTVT hướng dẫn về việc lưu hành xe quá tải, quá khổ và xe bánh xích trên đường bộ nhằm bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông và bảo đảm an toàn giao thông đường bộ trên phạm vi cả nước.
Thông tư này áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thuộc loại quá tải trọng, quá khổ giới hạn hoặc xe bánh xích khi tham gia giao thông trên mạng lưới đường bộ công cộng của Việt Nam.
- Quy định về xe quá tải trọng và xe quá khổ giới hạn đường bộ- Xe quá tải trọng là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có tổng trọng lượng vượt quá giới hạn tải trọng cho phép của đường bộ, hoặc có tải trọng trục xe vượt quá giới hạn tải trọng trục cho phép của đường bộ đã được cơ quan có thẩm quyền công bố.
- Xe quá khổ giới hạn là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có kích thước bao ngoài (kể cả hàng hóa xếp trên xe nếu có) vượt quá kích thước giới hạn tối đa cho phép về chiều cao, chiều rộng hoặc chiều dài của đường bộ.
- Việc xác định giới hạn tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật của tuyến đường, cầu cống và hệ thống biển báo hiệu đường bộ được cắm trên tuyến đường đó.
- Các phương tiện quá tải trọng, quá khổ giới hạn và xe bánh xích chỉ được phép lưu hành trên đường bộ khi có Giấy phép lưu hành xe đặc biệt do cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền cấp.
- Phương tiện khi tham gia giao thông phải bảo đảm các điều kiện an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định hiện hành của pháp luật.
- Đối với xe bánh xích, nghiêm cấm việc chạy trực tiếp trên đường nhựa, đường bê tông xi măng. Trường hợp bắt buộc phải di chuyển thì phải có biện pháp lót xích bảo vệ mặt đường hoặc phải vận chuyển bằng phương tiện chuyên dùng.
- Trong trường hợp cần thiết để bảo đảm an toàn cho công trình cầu đường, cơ quan cấp phép có thể yêu cầu chủ phương tiện phải thực hiện các biện pháp gia cường cầu đường hoặc phải có xe dẫn đường, xe hộ tống hỗ trợ trong suốt quá trình di chuyển.
- Cục Đường bộ Việt Nam và các Khu Quản lý đường bộ trực thuộc có thẩm quyền cấp Giấy phép lưu hành đặc biệt trên các tuyến quốc lộ trong phạm vi cả nước hoặc theo phân cấp quản lý cụ thể.
- Sở Giao thông vận tải (hoặc Sở Giao thông công chính) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền cấp Giấy phép lưu hành đặc biệt trên các tuyến đường tỉnh, đường đô thị và các tuyến quốc lộ được ủy quyền quản lý hành chính.
- Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép bao gồm đơn đề nghị theo mẫu quy định, bản sao giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, cùng phương án vận chuyển chi tiết bảo đảm an toàn giao thông và an toàn công trình.
- Thời hạn giải quyết và cấp giấy phép được thực hiện nhanh chóng theo quy định để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận tải, nhưng phải bảo đảm việc thẩm định kỹ lưỡng khả năng chịu tải của hệ thống cầu đường trên lộ trình đăng ký.
- Chủ phương tiện và người lái xe có trách nhiệm tuân thủ nghiêm ngặt các quy định ghi trong Giấy phép lưu hành đặc biệt, bao gồm tốc độ chạy xe, tuyến đường được phép đi, thời gian lưu hành và các biện pháp bảo đảm an toàn khác.
- Người lái xe phải mang theo Giấy phép lưu hành đặc biệt khi điều khiển phương tiện và xuất trình ngay khi có yêu cầu của lực lượng tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ.
- Các cơ quan quản lý đường bộ có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, giám sát tình trạng cầu đường, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
- Mọi hành vi tự ý lưu hành xe quá tải, quá khổ, xe bánh xích mà không có giấy phép hoặc không thực hiện đúng các yêu cầu trong giấy phép gây hư hỏng công trình đường bộ đều phải bồi thường thiệt hại và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Thông tư 21/2001/TT-BGTVT có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 21/2001/TT-BGTVT | Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2001 |
HƯỚNG DẪN VIỆC LƯU HÀNH XE QUÁ TẢI, QUÁ KHỔ VÀ XE BÁNH XÍCH TRÊN ĐƯỜNG BỘ
Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 29 tháng 6 năm 2001;
Căn cứ Nghị định số 22/CP ngày 22 tháng 3 năm 1994 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước và cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Giao thông vận tải;
Để bảo đảm an toàn và độ bền vững của cầu đường, không bị hư hỏng, phá hoại do hoạt động của các xe quá tải, quá khổ và xe bánh xích chạy trên đường gây nên;
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn việc lưu hành trên đường bộ của xe quá tải, quá khổ và xe bánh xích như sau:
1-1. Việc lưu hành của xe quá tải, quá khổ và xe bánh xích trên đường bộ phải bảo đảm an toàn giao thông và an toàn cầu đường;
1-2. Tải trọng của đường bộ là năng lực chịu tải của cầu và đường;
1-3. Năng lực chịu tải của cầu được xác định theo tiêu chuẩn thiết kế và tình trạng kỹ thuật thực tế của cầu, được thể hiện qua việc công bố và các biển báo về tải trọng;
1-4. Năng lực chịu tải của đường được xác định theo tải trọng trục xe tính toán để thiết kế mặt đường và tình trạng kỹ thuật thực tế của đường;
1-5. Khổ giới hạn an toàn của đường bộ là khoảng trống có kích thước giới hạn về chiều cao, chiều rộng của đường, cầu, hầm trên đường bộ để các xe kể cả hàng hóa xếp trên xe đi qua được an toàn;
1-6. Xe quá tải là xe có tổng trọng lượng bao gồm trọng lượng của xe và hàng vượt quá năng lực chịu tải của cầu hoặc xe có tải trọng trục đơn vượt quá năng lực chịu tải của mặt đường;
1-7. Xe quá khổ là xe có kích thước chiều cao hoặc chiều rộng bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe vượt quá khổ giới hạn an toàn của đường hoặc cầu;
1-8. Xe bánh xích gây hư hại mặt đường là loại xe khi chạy trên đường răng của bánh xích cắm xuống đường gây hư hỏng mặt đường, nền đường;
1-9. Xe máy chuyên dùng có tổng trọng lượng, tải trọng trục hoặc kích thước vượt quá tải trọng và khổ giới hạn an toàn của đường bộ khi tham gia giao thông cũng là xe quá tải, quá khổ;
1-10. Đối với xe quá tải, quá khổ nêu ở điểm 1-6, điểm 1-7 trên đây, chủ phương tiện, chủ hàng cần tìm cách đi bằng đường sắt, đường thủy. Trường hợp thật đặc biệt buộc phải đi bằng đường bộ phải thảo luận với cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền để giải quyết.
II. CÔNG BỐ TẢI TRỌNG VÀ KHỔ GIỚI HẠN CỦA ĐƯỜNG BỘ
2-1. Tải trọng và khổ giới hạn an toàn của đường bộ đối với từng tuyến đường, đoạn đường thuộc hệ thống quốc lộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải công bố. Tải trọng và khổ giới hạn an toàn của đường bộ đối với từng tuyến đường, đoạn đường địa phương do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương công bố.
2-2. Xe lưu hành trên đường bộ phải tuân theo tải trọng được công bố của xe bao gồm trọng lượng xe và hàng, tải trọng trục xe; khổ giới hạn của cầu đường tại những điểm khống chế.
III. QUY ĐỊNH VIỆC LƯU HÀNH ĐỐI VỚI XE QUÁ TẢI, QUÁ KHỔ, XE BÁNH XÍCH
3-1. Chủ hàng hoặc chủ phương tiện có xe quá tải, quá khổ, xe bánh xích cần chạy trên đường bộ phải có đơn xin lưu hành theo mẫu quy định tại phụ lục 1 và phụ lục 2, kèm các giấy tờ liên quan của phương tiện.
Cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền cấp giấy lưu hành cho xe quá tải, quá khổ, xe bánh xích theo mẫu quy định tại phụ lục 3 và phụ lục 4.
3-2. Thẩm quyền cấp giấy lưu hành đối với xe quá tải, quá khổ, xe bánh xích được phân cấp như sau:
3-2.1) Các Tổng giám đốc Khu Quản lý đường bộ cấp giấy lưu hành cho các xe hoạt động trên mạng lưới đường bộ của cả nước;
3-2.2) Các Giám đốc Sở Giao thông vận tải, Giám đốc Sở Giao thông công chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy lưu hành cho các xe hoạt động trong phạm vi địa phương bao gồm quốc lộ và các đường địa phương;
3-2.3) Chủ hàng hoặc chủ phương tiện đến cơ quan có thẩm quyền cấp giấy lưu hành nơi gần hoặc thuận lợi nhất để xin cấp giấy lưu hành;
3-2.4) Cục Đường bộ Việt Nam giải quyết cấp giấy lưu hành trong một số trường hợp đặc biệt.
3-3. Trường hợp cần phải gia cố tăng cường cầu, đường hoặc thực hiện các biện pháp khác và hướng dẫn cho xe quá tải, quá khổ, xe bánh xích lưu hành, chủ hàng hoặc chủ phương tiện phải chịu chi phí để thực hiện các công việc đó.
3-4. Trường hợp chủ hàng hoặc chủ phương tiện không thực hiện đầy đủ các giải pháp đã thống nhất về việc lưu hành, gây hư hỏng cầu đường thì phải bồi thường thiệt hại đã gây ra, nếu gây hậu quả nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
3-5. Cơ quan cấp giấy lưu hành phải chịu trách nhiệm về việc cấp giấy lưu hành đối với các xe quá tải, quá khổ và xe bánh xích, bảo đảm đúng đối tượng và giải pháp cho lưu hành phù hợp với tình trạng của cầu đường.
3-6. Các chủ đầu tư, chủ hàng hoặc chủ phương tiện có các lô hàng đặc biệt lớn phục vụ các công trình trọng điểm cần lưu hành trên đường bộ phải gửi trước đề án tới Bộ Giao thông vận tải để nghiên cứu có phương án chuẩn bị.
4-1. Cục Đường bộ Việt Nam thống nhất quản lý, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện việc cấp giấy lưu hành và hoạt động của xe quá tải, quá khổ, xe bánh xích.
4-2. Cục Đường bộ Việt Nam có trách nhiệm báo cáo tình hình cầu đường để Bộ Giao thông vận tải công bố tải trọng và khổ giới hạn an toàn các tuyến đường thuộc hệ thống quốc lộ. Các Sở GTVT, Sở GTCC có trách nhiệm báo cáo tình hình cầu đường để UBND cấp tỉnh công bố tải trọng và khổ giới hạn an toàn các tuyến đường thuộc các hệ thống đường địa phương quản lý.
4-3. Các Khu QLĐB, Sở GTVT, Sở GTCC có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, duy trì tình trạng cầu đường, kịp thời lắp đặt, bổ sung các biển báo về tải trọng và khổ giới hạn an toàn của đường bộ; báo cáo cấp trên tình hình về xe quá tải, quá khổ, xe bánh xích hoạt động trên đường bộ; tổ chức kiểm tra các xe quá tải, quá khổ, xe bánh xích tại các vị trí kiểm tra tải trọng xe.
4-4. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2002. Bãi bỏ Thông tư số 112/TT-BGTVT ngày 29 tháng 4 năm 1998 của Bộ Giao thông vận tải và các quy định trước đây về việc lưu hành đối với xe quá tải, quá khổ, xe bánh xích trên đường bộ trái với Thông tư này.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG BỘ GTVT |
- 1Thông tư 112/1998/TT-BGTVT hướng dẫn việc quản lý và cấp giấy phép lưu hành đặc biệt cho xe quá tải, xe quá khổ, xe bánh xích trên đường bộ do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành
- 2Quyết định 63/2007/QĐ-BGTVT Quy định về vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng và lưu hành xe bánh xích gây hư hại mặt đường, xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của đường bộ trên đường bộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông và vận tải ban hành
- 3Quyết định 4194/QĐ-BGTVT năm 2007 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Giao thông vận tải ban hành và liên tịch ban hành hết hiệu lực pháp luật do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 4Quyết định 494/QĐ-BGTVT năm 2010 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật về giao thông vận tải hết hiệu lực thi hành do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 5Quyết định 1291/QĐ-BGTVT năm 2014 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Giao thông vận tải đến hết ngày 31/01/2014
- 1Thông tư 112/1998/TT-BGTVT hướng dẫn việc quản lý và cấp giấy phép lưu hành đặc biệt cho xe quá tải, xe quá khổ, xe bánh xích trên đường bộ do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành
- 2Quyết định 63/2007/QĐ-BGTVT Quy định về vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng và lưu hành xe bánh xích gây hư hại mặt đường, xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của đường bộ trên đường bộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông và vận tải ban hành
- 3Quyết định 4194/QĐ-BGTVT năm 2007 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Giao thông vận tải ban hành và liên tịch ban hành hết hiệu lực pháp luật do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 4Quyết định 494/QĐ-BGTVT năm 2010 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật về giao thông vận tải hết hiệu lực thi hành do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 5Quyết định 1291/QĐ-BGTVT năm 2014 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Giao thông vận tải đến hết ngày 31/01/2014
- 1Nghị định 22-CP năm 1994 về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm quản lý Nhà nước và cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Giao thông vận tải
- 2Luật Giao thông đường bộ 2001
- 3Quyết định 63/2007/QĐ-BGTVT Quy định về vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng và lưu hành xe bánh xích gây hư hại mặt đường, xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của đường bộ trên đường bộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông và vận tải ban hành
Thông tư 21/2001/TT-BGTVT về việc lưu hành xe quá tải, quá khổ và xe bánh xích trên đường bộ do Bộ Giao thông vận tải ban hành
- Số hiệu: 21/2001/TT-BGTVT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 10/12/2001
- Nơi ban hành: Bộ Giao thông vận tải
- Người ký: Phạm Quang Tuyến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
